THÔNG TƯ Hướng dẫn thi hành chế độ trợ cấp sơ tán cho gia đình cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân trong tình hình mới Trước tình hình địch lại tăng cường và mở rộng chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc, để bảo đảm sản xuất và chiến đấu, đồng thời để tránh những thiệt hại về người và của không cần thiết do địch có thể gây ra, việc sơ tán gia đình cán bộ công nhân, viên chức và nhân dân khỏi những nơi có thể bị địch đánh phá đã trở thành một nhiệm vụ cấp bách. Để làm tốt việc này, cần làm cho mọi người nhận rõ đây là biểu hiện của sự quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược và cũng là một nghĩa vụ đối với Tổ quốc, phải thực hiện một cách tự giác, nghiêm chỉnh và khẩn trương trên tinh thần khắc phục khó khăn chịu đựng gian khổ. Nhưng để giúp đỡ giải quyết một phần những khó khăn bước đầu trong việc tổ chức sơ tán gia đình,
căn cứ vào chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ cho phục hồi lại một số chế độ trợ cấp sơ tán đã ban hành trong những năm chống chiến tranh phá hoại trước đây, Bộ Tài chính hướng dẫn việc thi hành các chế độ đó trong tình hình mới như sau: I/ TRỢ CẤP MỘT LẦN CHO GIA ĐÌNH KHI ĐI SƠ TÁN 1/ Đối với gia đình cán bộ, công nhân, viên chức có mức thu nhập thấp đi sơ tán. Được
xét trợ cấp khó khăn đột xuất vì sơ tán như đã quy định trong Thông tư số 40-TT/LB ngày 10/11/1965 của Tổng Công đoàn Việt nam và Bộ Tài chính và trong Công văn số 296-TC/HCVX ngày 22/12/1965 của Bộ Tài chính. Để tránh trùng lắp trong khi xét trợ cấp và để cho khoản trợ cấp có tác dụng thực sự thúc đẩy việc sơ tán, Bộ Tài chính hướng dẫn thêm cách giải quyết đối với một số trường hợp: a/ Trường hợp gia đình thuộc diện được trợ cấp có từ 2 người trở lên là cán bộ, công nhân, viên chức cùng công tác ở một địa phương thì cơ quan, xí nghiệp mà người chịu trách nhiệm chính của gia đình đó làm việc xét trợ cấp. Khi được xét trợ cấp, người chịu trách nhiệm chính của gia đình phải xuất trình giấy chứng nhận của những người còn lại trong gia đình là cán bộ, công nhân, viên chức không được xét trợ cấp ở nơi họ đang công tác. b/ Trường hợp gia đình thuộc diện được trợ cấp có từ 2 người trở lên là cán bộ, công nhân, viên chức công tác ở những địa phương khác nhau và đều phải đi sơ tán thì cơ quan, xí nghiệp của người có mức lương thấp (hoặc có nhiều người trong gia đình đi sơ tán) xét trợ cấp. Khi được xét trợ cấp, người này phải xuất trình giấy chứng nhận của những người còn lại trong gia đình là cán bộ, công nhân, viên chức không được xét trợ cấp ở nơi họ đang công tác. c/ Trường hợp khi đi sơ tán mà một gia đình được cả trợ cấp khó khăn đột xuất và trợ cấp cho các cháu thuộc lớp tuổi nhà trẻ, mẫu giáo, thì chỉ được hưởng khoản trợ cấp cao nhất, hoặc cả hai khoản cộng lại không quá 60 đồng. d/ Trường hợp gia đình đã lĩnh trợ cấp khó khăn đột xuất và đã đi sơ tán nhưng lại trở về trước khi có lệnh thì xí nghiệp và cơ quan sẽ căn cứ vào thời gian đã đi sơ tán dài hay ngắn mà buộc phải hoàn lại một phần hoặc toàn bộ số tiền đã được trợ cấp. đ/ Chế độ trợ cấp khó khăn đột xuất trên đây cũng áp dụng cho những gia đình cán bộ, công nhân, viên chức và quân nhân về hưu, mất sức lao động đang hưởng trợ cấp hưu trí, mất sức lao động; cơ quan quản lý quỹ trợ cấp những người này xét cấp và thanh toán với cơ quan tài chính. 2/ Đối với gia đình nhân dân nội thành, nội thị có mức thu nhập bình quân nhân khẩu dưới 12đồng/tháng đi sơ tán thì được trợ cấp một lần cho mỗi gia đình như sau: - Gia đình có từ 1 đến 2 người chưa đến tuổi lao động hoặc mất sức lao động đi sơ tán, được trợ cấp 10 đồng. - Gia đình có từ 3 người trở lên chưa đến tuổi lao động hoặc mất sức lao động đi sơ tán, ngoài khoản trợ cấp nói trên, kể từ người thứ 3, cứ thêm một người thì được trợ cấp thêm 5 đồng, nhưng mức trợ cấp tối đa không quá 30 đồng. Để việc xét trợ cấp được công bằng hợp lý và khoản trợ cấp này có tác dụng thực sự thúc đẩy việc sơ tán, Bộ Tài chính hướng dẫn thêm một số điểm: a/ Đối tượng chủ yếu được xét trợ cấp là những gia đình mà nguồn sống chính dựa vào sản xuất. Còn đối với những gia đình mà nguồn sống chính dựa vào những nghề như vận tải thô sơ, sửa chữa xe đạp, buôn bán ... thu nhập bình thường đã cao, khi sơ tán cũng ít bị ảnh hưởng, thì phải hết sức chặt chẽ, chỉ xét trợ cấp khi nào nắm chắc là họ có khó khăn thực sự. b/ Trường hợp gia đình đã lĩnh trợ cấp và đã đi sơ tán nhưng lại trở về trước khi có lệnh thì sẽ căn cứ vào thời gian đã đi sơ tán dài hay ngắn mà phải hoàn lại một phần hoặc toàn bộ số tiền đã được trợ cấp. c/ Những gia đình có người là cán bộ, công nhân, viên chức (còn tại chức hay đã về hưu, nghỉ mất sức), quân nhân tại ngũ hưởng chế độ lương thì không thuộc diện gia đình nhân dân đi sơ tán. Khoản trợ cấp trên đây do nguồn trợ cấp cứu tế nhân dân thuộc Ngân sách địa phương đài thọ. 3/ Đối với gia đình liệt sĩ, thương binh, gia đình có người đi công tác và chiến đấu ở B, C. Ngoài mức trợ cấp nói trên, còn được trợ cấp thêm cho mỗi gia đình thuộc diện được trợ cấp khó khăn 10 đồng (chung cho gia đình, không tính theo số người). Khoản trợ cấp này do các cơ quan quản lý quỹ trợ cấp gia đình liệt sĩ, thương binh, gia đình có người đi công tác và chiến đấu ở B, C cấp và thanh toán với cơ quan tài chính. Để tránh trùng lắp trong việc xét trợ cấp, nay quy đinh như sau: a/ Trường hợp gia đình có cả liệt sĩ, thương binh và người đi công tác, chiến đấu ở B, C, thì cơ quan quản lý quỹ trợ cấp gia đình B, C cấp. b/ Trường hợp gia đình có cả liệt sĩ và thương binh thì cơ quan quản lý quỹ trợ cấp thương binh cấp. c/ Trường hợp gia đình chỉ có một trong ba đối tượng kể trên thì cơ quan quản lý quỹ trợ cấp cho đối tượng ấy cấp. II/ TRỢ CẤP MỘT LẦN CHO CON CÁN BỘ, CÔNG NHÂN VIÊN CHỨC KHI ĐI SƠ TÁN 1/ Con cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước thuộc lứa tuổi gửi nhà trẻ và mẫu giáo (lứa tuổi nhà trẻ: từ 36 tháng trở xuống; lứa tuổi mẫu giáo: từ trên 36 tháng đến 72 tháng) đi sơ tán, được trợ cấp một lần 10 đồng mỗi cháu. Việc cấp phát, quản lý và sử dụng khoản trợ cấp này quy định như sau: a/ Trường hợp con cán bộ, công nhân, viên chức đi sơ tán theo cơ quan, xí nghiệp thì khoản trợ cấp này do cơ quan, xí nghiệp quản lý để chi về việc tổ chức sơ tán tập thể cho các cháu. Trường hợp con cán bộ, công nhân, viên chức đi sơ tán lẻ (không sơ tán theo cơ quan xí nghiệp) thì khoản trợ cấp này được giao thẳng cho cán bộ, công nhân, viên chức là mẹ hoặc bố (nếu mẹ không phải là cán bộ, công nhân, viên chức); trường hợp nếu cháu không còn cả mẹ lẫn bố thì khoản trợ cấp này được giao thẳng cho người trực tiếp nuôi cháu. b/ Trường hợp con cán bộ, công nhân, viên chức đã đi sơ tán tập thể theo cơ quan, xí nghiệp, sau đó lại rút ra để đi sơ tán lẻ, thì vẫn được hưởng khoản trợ cấp này; ngược lại, trong trường hợp con cán bộ, công nhân, viên chức đã đi sơ tán lẻ sau đó lại chuyển vào tổ chức sơ tán tập thể của cơ quan, xí nghiệp thì khoản trợ cấp này phải nộp lại cho cơ quan, xí nghiệp. Khoản kinh phí này do cơ quan, xí nghiệp nơi người mẹ công tác cấp (trường hợp mẹ không phải là cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước hoặc không còn mẹ thì cơ quan, xí nghiệp nơi người bố công tác cấp) và thanh toán với cơ quan tài chính. 2/ Con cán bộ, công nhân, viên chức (kể cả con những người đã về hưu, nghỉ việc vì mất sức lao động) thuộc lứa tuổi học vỡ lòng, xí nghiệp được cơ quan xí nghiệp tính dự trù tiền làm hầm trú ẩn theo tiêu chuẩn đã quy định trong Thông tư 06-TC/HCVX ngày 26/4/1972 của Bộ Tài chính. Trường hợp con công nhân, viên chức đi sơ tán lẻ, gia đình tự lo liệu việc sơ tán, làm hầm trú ẩn ..., nếu có khó khăn thì cơ quan xí nghiệp cần có sự giúp đỡ thích hợp trong khi xét trợ cấp cho các gia đình công nhân, viên chức có mức thu nhập thấp đi sơ tán. III/ TRỢ CẤP KHÓ KHĂN ĐỘT XUẤT DO TAI NẠN CHIẾN TRANH 1/ Cán bộ, công nhân, viên chức do địch đánh phá mà bị thiệt hại một phần hay toàn bộ tài sản riêng hoặc trong gia đình có người bị tai nạn (bị thương, bị chết ...) thì tuỳ theo mức độ khó khăn mà được trợ cấp một lần từ 20 đồng đến 250 đồng. Khoản trợ cấp này cũng như khoản trợ cấp khó khăn đột xuất vì sơ tán, trước hết chi vào quỹ trợ cấp gia đình khó khăn đã dự trù theo mức bình quân 5 đồng/đầu người như từ trước đến nay. Nếu thiếu, thì các Bộ, các ngành, các địa phương cố gắng điều hoà, sắp xếp trong phạm vi dự toán của ngành hay Ngân sách của địa phương mình. Trường hợp trợ cấp khó khăn đột xuất quá lớn, vượt khả năng giải quyết của ngành, của địa phương, thì các Bộ, các ngành, các địa phương phản ánh kịp thời về Tổng công đoàn Việt nam và Bộ Tài chính xét trợ cấp theo quy định hiện hành. 2/ Đối với nhân dân bị tai nạn chiến tranh thì áp dụng Thông tư số 157-CP ngày 25/8/1966 và Thông tư số 111-CP ngày 20/7/1967 của Hội đồng Chính phủ. IV/ PHẠM VI VÀ THỜI GIAN THI HÀNH Các chế độ trợ cấp sơ tán một lần quy định trên đây được thi hành kể từ ngày 16/4/1972 đối với nội thành và các trọng điểm có lệnh sơ tán ở ba thành phố Hà nội, Hải phòng, Nam định. Đối với các thành phố, khu công nghiệp tập trung khác, thời gian thi hành bắt đầu khi có lệnh sơ tán của cấp trên. Riêng đối với chế độ trợ cấp khó khăn đột xuất cho cán bộ, công nhân, viên chức đi sơ tán hay bị tai nạn chiến tranh (điểm 1, phần I và III) thì thi hành theo Thông tư số 40-TT/LB ngày 10/11/1965 của Tổng công đoàn Việt nam và Bộ Tài chính và cho các nơi bị địch đánh phá./.