THÔNG TƯ V/v học sinh giỏi môn kỹ thuật tính toán". Kính gửi : Ông Hiệu trưởng trường trung học tài chính kế toán Để quán triệt tinh thần Nghị quyết 225 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Nghị quyết 22 của Trung ương Đảng về công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, nhiệm vụ hàng đầu của các trường lớp trung học tài chính kế toán là phải ra sức thúc đẩy phong trào thi đua "hai tốt ", nâng cao chất lượng giảng dậy và học tập. Trên tinh thần đó, trong quý II năm 1974, Bộ sẽ tổ chức thi điểm thi chọn học sinh giỏi môn "kỹ thuật tính toán" (trước đây gọi là "sử dụng bàn tính và máy tính") để rút kinh nghiệm cho việc tổ chức chọn học sinh giỏi các môn khác. Bộ lưu ý Trường một số điểm : I/ TRỌNG ĐIỂM THI Môn "kỹ thuật tính toán"là một môn học thực hành, nên trọng điểm thi là thực hành. Trong điều kiện hiện nay phương tiện máy tính còn thiếu thì nội dung thi chủ yếu là thực hành về mặt gảy bàn tính. Nhưng ta vẫn cần chú trọng một cách thích đáng đến mặt lý thuyết, kể cả lý thuyết về sử dụng máy tính. II/ TIÊU CHUẨN THI Nói chung là phải toàn diện : tính toán chính xác với tốc độ cao, đồng thời hiểu biết vững vàng về lý thuyết. 1/ Về thực hành gảy bàn tính - Học sinh giỏi của lớp phải : + tính toán chính xác + tốc độ tính toán ít nhất phải giảm 1/10 thời gian quy định
sau khi học xong môn học (ghi trong đề cương chương trình môn học, đã đưa xuống trường). - Học sinh giỏi của trường phải : + tính toán chính xác + tốc độ tính toán ít nhất phải giảm 1,5/10 thời gian quy định
sau khi học xong môn học - Học sinh giỏi của ngành phải: + tính toán chính xác + tốc độ tính toán ít nhất phải giảm 2/10 thời gian quy định sau khi học xong môn học. Thí dụ một điểm để tính, bao gồm một con tính riêng lẻ hoặc nhiều con tính hỗn hợp, được quy định ngay sau khi học xong môn học phải làm trong 10' (10 phút), thi học sinh giỏi - của lớp phải làm xong ít nhất trong 9 phút - " trường " " " 8 phút rưỡi - " ngành "" " 8 phút 2/ Về lý thuyết - Học sinh giỏi của lớp phải giải đáp đúng về cơ bản những điều đã học - Học sinh giỏi của trường và của ngành không những phải giải đáp đúng đắn những điều đã học, đồng thời còn biết phân tích, hoặc có kiến giải khoa học đối với những vấn đề được hỏi. III/ ĐỀ THI VÀ ĐIỂM CHẤM 1/ Đối tượng thi là học sinh giỏi, đề thi nên có tính chất nâng cao tay nghề hơn, do đó để thực hành cần bao gồm các phép tính hỗn hợp, để thi về lý thuyết cần nêu những câu hỏi gợi được cho học sinh đào sâu suy nghĩ. 2/ Tiêu chuẩn thực hành tuy chia thành hai điểm nhỏ : chính xác và nhanh nhưng không thể căn cứ vào đó để phân chia số điểm chấm. Khi chấm thi phải kết hợp cả hai mặt. Đương nhiên, không thể có học sinh giỏi nào chỉ làm chính xác mà lại không nhanh, hoặc ngược lại. 3/ Để bảo đảm tính chất toàn diện.Trường phân bổ phần thực hành đề thi là 70% và phần lý thuyết là 30%, tức là cho theo 10 điểm thì 7 điểm thực hành và 3 điểm lý thuyết. Số điểm 10 cao nhất nói trên được khống chế như sau : - Dành 1 điểm thực hành và 0,5 điểm lý thuyết, cộng là 1.5 điểm, để tính cho những sáng kiến hợp lý hóa động tác, tăng nhanh tốc độ tính toán và lời giải đặc sắc. Còn lại 6 điểm thực hành và 2,5 điểm lý thuyết, cộng là 8,5 điểm. Riêng về thực hành, tiêu chuẩn tốc độ nêu trên mới chỉ là tiêu chuẩn thấp. Bởi vậy, để tương ứng trong một chừng mực nào đó với 2,5 điểm lý thuyết, ta lấy 5 điểm tính cho tiêu chuẩn thấp về thực hành. Chi tiết từng vấn đề trong mỗi phần của đề thi là bao nhiêu điểm. Trường sẽ căn cứ vào nguyên tắc trên và đề thi cụ thể mà định 4/ Học sinh giỏi là học sinh đạt từ 8 điểm trở lên. Học sinh xuất sắc là học sinh đạt từ 9,5 điểm trở lên. IV/ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN MÔN HỌC: 1/ Vì giáo viên phải là mẫu mực cho học sinh, đồng thời lại phải hiểu và tạo điều kiện thích hợp giúp học sinh vươn lên từng bứơc đạt các tiêu chuẩn đề ra, cho nên yêu cầu giáo viên môn học thực hành phải có động tác tương đối thành thạo và chính xác,về lý thuất phải rất sâu. Trường cần dành thời gian cho việc nâng cao trình độ giáo viên môn học này. Việc nâng cao trình độ giáo viên phải đi trước việc bồi dưỡng học sinh một bước và do giáo viên tự nghiên cứu tự rèn luyện là chính. 2/ Đối tượng bồi dưỡng của giáo viên là những học sinh khá đã hiểu biết môn học. Nhu cầu kiến thức của họ vừa bao gồm những nhu cầu hiểu biết xuất hiện lẻ tẻ trong khi nghe giảng, vừa bao gồm những nhu cầu hiểu biết sâu thêm tập trung ở những phần tương đối rắc rối của môn học. Để tránh bị động bất ngời trong khi bồi dưỡng, loại đối tượng này, giáo viên cần chuẩn bị một cách đầy đủ, đặc biệt nên đi sâu : - Nghiên cứu các dạng tính nhân khác và vấn đề tính tắt trong khi nhân - Nghiên cứu các dạng tính từ chia khác và vấn đề tính tắt trong khi chia Từ sự nghiên cứu này, giáo viên rút ra cơ sở lý thuyết và những động tác hợp lý nhất có thể tăng nhanh tốc độ tính tóan để giới thiệu cho học sinh. Đồng thời, giáo viên cần phải chuẩn bị cả một hệ thống bài tập từ riêng lẻ một hai phép tính cho đến tổng hợp phép tính. 3/Thời gian giới thiệu động tác và lý thuyết với thời gian làm bài tập, cần được phân bổ thích đáng. Kinh nghiệm đã qua về môn này là 1 so với 2. Nếu còn tăng thêm được thời gian làm bài tập của học sinh hơn nữa thì càng tốt. Số thời gian bồi dưỡng học sinh này phải lấy ở ngoài giờ học chính thức, như một số giờ buổi tối, ngày nghỉ v.v... Đơn vị nào, lớp nào, giáo viên nào lấy lấn vào giờ học quy định làm ảnh hưởng các môn học khác là vi phạm quy chế thi đua và vi phạm quy chế thi chọn lọc học sinh giỏi. V THỜI GIAN TRIỂN KHAI
Sau khi nhận được thông tư này, Trường xúc tiến ngay việc phát hiện, bồi dưỡng các học sinh khá. Chậm nhất thựơng tuần tháng 5/1974 phải tổ chức xong thi chọn học sinh giỏi của lớp và chậm nhất thượng tuần tháng 6/1974 phải tổ chức xong thi chọn học sinh giỏi của trường và báo cáo về Bộ để cuối tháng 6/1974 có thể tổ chức thi chọn học sinh giỏi của ngành. Địa điểm thi chọn học sinh giỏi của ngành sẽ báo sau Trên đây là những nét lớn, trong khi tổ chức nghiên cứu và triển khai thực hiện.Trường có ý kiến gì về các điểm nêu trên để hoàn thiện hơn nữa kỳ thi chọn học sinh giỏi môn "kỹ thuật tính toán" này, báo cáo ngay về Bộ.