THÔNG TƯ LIÊN BỘ Về việc khoá sổ thu, chi ngân sách Nhà nước cuối năm 1979. Năm 1979 các ngành, các địa phương đã bước đầu triển khai thi hành chỉ thị 33 CT/TU của Bộ Chính trị, Nghị quyết 33 CP và 108 CP của Hội đồng Chính phủ về việc phân cấp quản lý tài chính và ngân sách cho Chính quyền Nhà nước cấp tỉnh và cấp Huyện; một số huyện đã xây dựng thành một cấp có ngân sách riêng và bước đầu thực hiện nhiệm vụ quản lý ngân sách Nhà nước ở địa phương. Những quy định trong việc khoá sổ thu, chi ngân sách Nhà nước cuối năm theo thông tư Liên Bộ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước số 14 TT/LB ngày 25/11/1977 được tiếp tục áp dụng đối với năm 1979, đồng thời được mở rộng phạm vi thi hành đến cấp huyện hoặc cấp tương đương. Thông tư này nhắc lại và quy định bổ sung một số điểm trong công tác khoá sổ thu, chi ngân sách Nhà nước tại các cơ quan, đơn vị dự toán, các xí nghiệp, tổ chức kinh tế từ Trung ương đến tỉnh hoặc thành phố và huyện hoặc cấp tương đương. I. ý nghĩa, tác dụng và phạm vi đối tượng thi hành Khoá sổ thu, chi ngân sách Nhà nước cuối mỗi năm là một chế độ kỷ luật tài chính, có tác dụng tích cực thúc đẩy sản suất - kinh doanh, cải tiến công tác quản lý, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ thu, chi ngân sách. Tất cả các Bộ, các ngành, các cơ quan, xí nghiệp và các tổ chức khác của Nhà nước, thông qua công việc khoá sổ để xác minh lại nguồn vốn, nguồn kinh phí của đơn vị mình đã đi sâu phân tích kết quản hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị mình, xem
xét lại mức độ thực hiện nhiệm vụ thu, chi ngân sách đã được Nhà nước giao cho và phải có biện pháp tích cực đẩy mạnh việc hoàn thành vượt mức nhiệm vụ đó trong những ngày tháng cuối năm. Làm tốt việc khoá sổ thu, chi ngân sách còn tạo điều kiện cho cơ quan đơn vị quyết toán được chính xác, đầy đủ, kịp thời số thu, số chi ngân sách Nhà nước , phản ánh trung thực, hiệu quả đồng vốn của đơn vị mình để rút kinh nghiệm nhằm phát huy đúng mức mặt tích cực, khắc phục mặt yếu kém nâng cao chất lượng quản lý trong các năm sau. Công việc khoá sổ thu chi ngân sách Nhà nước cuối năm thực hiện tại cơ quan Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng nội địa và Ngân hàng Ngoại thương) và ở tất cả các ngành, các cấp, các cơ quan, xí nghiệp, đơn vị dự toán Trung ương, tỉnh, thành phố và huyện hoặc cấp tương đương . Các đơn vị cần: - Nộp hết, nộp đủ tất cả các khoản thu của ngân sách Nhà nước năm 1979 vào Ngân hàng trước ngày, giờ khoá sổ. - Tổ chức thực hiện những khoản chi cần thiết theo kế hoạch năm trước khi hết năm, không chi vét, không "chạy vốn", trên tinh thần hết sức tiết kiệm, đảm bảo hoạt động của đơn vị. - Khoá sổ thu chi ngân sách năm 1979 tại cơ quan xí nghiệp, đơn vị mình khớp đúng với Ngân hàng Nhà nước cơ sở về thời điểm và số liệu theo loại, khoản, hạng, mục thu chi ngân sách. II. Công việc chuẩn bị trược khi khoá sổ A. Thanh toán thu nộp ngân sách. Tất cả các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị đều phải đảm bảo nhiệm vụ thu nộp vào ngân sách Nhà nước. Trước khi Ngân hàng Nhà nước các cấp khoá sổ thu, chi ngân sách, các đơn vị phải tích cực chuẩn bị để thực hiện đầy đủ những công việc cụ thể sau đây: 1. Tất cả các khoản thu thuộc ngân sách Nhà nước năm 1979 đã được xác định đến ngày 31/12/1979, kể cả lợi nhuận vượt kế hoạch (nếu có), các khoản tồn đọng của các năm trước đều phải nộp hết, nộp đủ vào ngân sách Nhà nước , tại các Ngân hàng Nhà nước cơ sở, chậm nhất là trong ngày 31/12/1979 . Nếu nộp sau ngày đó, sẽ coi là nộp cho năm 1980 và không tính vào thành tích nộp ngân sách Nhà nước năm 1979. Các Bộ, các ngành, các địa phương chủ động tính toán kiểm tra lại nhiệm vụ thu nộp còn lại của kế hoạch 1979, cụ thể cho từng liên hiệp xí nghiệp, từng đơn vị cấp dưới; có biện pháp kiểm tra đôn đốc hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thu nộp cho Nhà nước trong năm 1979 trong từng đơn vị trong toàn ngành, toàn cấp. Từng đơn vị thu nộp phải tự mình soát lại nhiệm vụ thu nộp ngân sách, số đã nộp ngân sách năm 1979 và khẩn trương nộp không những số còn thiếu so với nhiệm vụ kế hoạch thu nộp cả năm được giao mà còn nộp đủ và hết số thu nhập thuần tuý vượt kế hoạch và các số thu phát sinh khác cần phải nộp vào ngân sách, bao gồm nộp vào ngân sách trong vòng 20 ngày đầu tháng 12, không để dồn vào ngày 31/12/1979. Các cán bộ chuyên quản xí nghiệp, cán bộ quản lý tài vụ chuyên ngành thuộc cơ quan tài chính và cán bộ tín dụng tiền tệ và thanh toán của cơ quan Ngân hàng Nhà nước các cấp cần phối hợp chặt chẽ cùng nhau soát
xét tình hình hoạt động tài vụ các xí nghiệp mình phụ trách, cùng bộ phận tài vụ xí nghiệp tính toán kỹ để không bỏ sót số thu phải nộp vào ngân sách và cũng không nộp thừa . Xí nghiệp nào, đơn vị thu nộp nào cố tình lấy vốn nộp ngân sách để được xét duyệt công nhận hoàn thành kế hoạch thu nộp và được giải quyết các quyền lợi về trích các quỹ xí nghiệp rồi đến đầu năm 1980 lại đề nghị thoái thu, thì coi như vi phạm kỷ luật tài chính. 2. Các Sở, Ty Tài chính, Ban Tài chính giá cả huyện cần phải phối hợp chặt chẽ với cơ quan Ngân hàng Nhà nước đồng cấp hoàn thành trước ngày 31/12/1979 việc điều chỉnh, thoái thu các khoản thu giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương, giữa ngân sách cấp tỉnh, thành phố và ngân sách cấp huyện theo tỷ lệ điều tiết đã được quy định cho năm 1979. 3. Các cơ quan, xí nghiệp, đơn vị , ngành và địa phương nào còn giữ các quỹ riêng, quỹ trái phép thì bất luận nguồn gốc tiền quỹ đó do đâu, đều phải kê khai với cơ quan tài chính và nộp hết vào ngân sách năm 1979 trong dịp khoá sổ cuối năm. Cơ quan Ngân hàng Nhà nước và Tài chính cơ sở cần tăng cường kiểm tra nguồn gốc các khoản tiền gửi nếu phát hiện nguồn gốc là tiền phải nộp ngân sách Nhà nước thì có biện pháp thu hồi vào ngân sách. Đến ngày 31/12/1979 nếu có đơn vị kinh tế hoặc cơ quan hành chính và sự nghiệp nào không kê khai và không nộp vào ngân sách (đơn vị trực thuộc các ngành Trung ương thì nộp vào ngân sách Trung ương; đơn vị trực thuộc tỉnh, thành phố nộp vào ngân sách cấp tỉnh, thành phố; đơn vị trực thuộc huyện nộp vào ngân sách huyện) mà phát hiện ra thì thủ trưởng đơn vị chịu trách nhiệm về việc làm trái phép đó. 4. Các phòng, trạm, các uỷ nhiệm thu thuế, các cửa hàng thương nghiệp ở các thành phố, thị xã, thị trấn - do đặc điểm có thu tiền thuế và tiền bán hàng sau ngày giờ khoá sổ của Ngân hàng Nhà nước nhưng vẫn thuộc ngân sách Nhà nước năm 1979 - thì đơn vị phải trao đổi ý kiến trước với Ngân hàng nơi thường xuyên giao dịch để tổ chức thu nhận số tiền này trong ngày hôm sau và hạch toán vào khoản nộp của năm 1979. 5. Ngân hàng Nhà nước cơ sở phải bố trí cán bộ, huy động mọi lực lượng có thể được, chuẩn bị đầy đủ, đảm bảo thu nhanh, thu hết, hạch toán đầy đủ vào ngân sách Nhà nước 1979. ở những thành phố, thị xã có nhiều nguồn thu và số thu nộp lớn, Ngân hàng cần tổ chức thu nhận kịp thời, nhất thiết không để số thu nộp của năm 1979 phải chuyển sang năm 1980. Nếu đơn vị thu nộp nào có số tiền mặt quá lớn, không đếm nhận kịp trong ngày 31/12/1979 thì Ngân hàng cơ sở tổ chức thu tiền theo chế độ túi niêm phong của Ngân hàng Nhà nước Trung ương đã quy định. 6. Đối với các khoản tạm thu, thu chưa phân tích được theo khoản, hạng, thu ngoài ngân sách, cơ quan Ngân hàng Nhà nước cơ sở phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp và đơn vị thu nộp điều chỉnh hết vào khoản, hạng, mục chính thức thuộc ngân sách năm 1979 trước ngày giờ khoá sổ cuối năm. Đến thời điểm khoá sổ nếu còn sót lại số tiền thu nào chưa điều chỉnh thì Ngân hàng bàn thống nhất với cơ quan tài chính làm thủ tục để đưa vào khoản "Thu khác" thuộc ngân sách năm 1979. B. Thanh toán các khoản chi ngân sách. Việc thanh toán chi tiêu cuối năm phải nhằm ngăn cấm tình trạng "Chạy vốn", "Tranh thủ chi cho hết kinh phí" vào cuối năm; Đối với những việc cần thiết phải chi thì bố trí kịp thời, sao cho khoản chi được thực hiện và thanh toán, quyết toán vào ngân sách năm 1979. Để đạt yêu cầu này, phải chuẩn bị sớm các việc sau đây: 1. Cơ quan tài chính định ngày phê chuẩn hạn mức, Ngân hàng Nhà nước định ngày chuyển thông báo phân phối hạn mức kinh phí năm 1979. a. Đối với ngân sách Trung ương Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Trung ương định thời hạn cuối cùng phải giải quyết xong việc phê chuẩn hạn mức và chuyển thông báo phân phối hạn mức kinh phí ngân sách Trung ương cũng như các khoản trợ cấp cho ngân sách các địa phương như sau: + Từ 16 giờ ngày 20/12/1979 đối với các đơn vị dự toán Trung ương đóng ở phía Nam từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào và đóng ở Bình Trị Thiên, Nghệ Tĩnh, Hà Tuyên, Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Hoàng Liên Sơn, Quảng Ninh. + Từ 16 giờ ngày 22/12/1979 đối với các đơn vị đóng ở các địa phương khác trên miền Bắc (trừ Hà Nội) + Từ 16 giờ ngày 26/12/1979 đối với các đơn vị đóng ở Hà Nội. - Các đơn vị dự toán cấp II thuộc ngân sách Trung ương đóng ở phía Nam được quyền phân phối hạn mức cho các đơn vị cấp III trực thuộc, phải giải quyết xong việc phân phối hạn mức theo thời hạn như sau: + Từ 16 giờ ngày 24/12/1979 đối với đơn vị cấp III đóng ở tỉnh, thành phố khác nơi đóng trụ sở của đơn vị cấp II. + Từ 16 giờ ngày 26/12/1979 đối với đơn vị cấp III đóng trong cùng một tỉnh, thành phố với đơn vị cấp II. b. Đối với ngân sách cấp tỉnh, thành phố và ngân sách huyện. Các Ty, Sở Tài chính cùng với Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố, các Ban Tài chính giá cả huyện và Ngân hàng Nhà nước cơ sở quy định thời hạn cuối cùng phải giải quyết xong việc phê chuẩn phân phối hạn mức và chuyển kinh phí thuộc ngân sách cấp mình, phù hợp với tình hình cụ thể ở địa phương. Nguyên tắc là phải căn cứ thời gian luân chuyển giấy tờ từ nơi phê chuẩn hay phân phối hạn mức đến nơi nhận kinh phí, sao cho hạn mức kinh phí chuyển về đến cơ sở còn có thể sử dụng được kịp thời. Do đó đơn vị càng ở xa càng phải tính toán lo liệu sớm để không trở ngại và ảnh hưởng đến các mặt hoạt động của đơn vị . Các đơn vị trực tiếp chi tiêu, không phân biệt trực thuộc ngân sách cấp nào, đều phải đình chỉ phát hành "Séc bảo chi", "Séc định mức" hoặc "Séc chuyển tiền" từ 16 giờ ngày 22/12/1979, bảo đảm cho séc phát hành có đủ thời gian quay trở lại Ngân hàng nơi lưu ký hạn mức trước ngày 31/12/1979. 2. Thanh toán các khoản cho vay, đi vay, tạm ứng, tạm cấp: a. Tất cả các khoản tiền ngân sách cấp này cho ngân sách cấp khác vay hoặc đi vay của ngân sách cấp khác đều phải thanh toán sòng phẳng trước ngày 15/12/1979 . Nếu vì lý do nào đó chưa thể trả được, cơ quan đi vay phải báo cáo cụ thể với cơ quan cho vay để được giải quyết trước ngày qui định chuyển tiền và kinh phí nói ở trên (điểm 1, phần B). b. Các cơ quan đơn vị dự toán đã được cơ quan tài chính cho tạm ứng, tạm cấp kinh phí cũng phải thanh toán xong trước ngày 15/12/1979 . Nếu có lý do chính đáng chưa thể trả được, thì bàn với cơ quan tài chính xin tạm ứng, tạm cấp trước cho năm sau để trang trải công nợ năm quyết toán; đồng thời thống nhất ghi sổ sách, bảo đảm nhất trí giữa kế toán đơn vị, kế toán ngân sách của cơ quan tài chính và kế toán quỹ ngân sách của Ngân hàng Nhà nước. c. Trong nội bộ đơn vị dự toán, một mặt phải xét kỹ, hạn chế việc tạm ứng trong tháng 12/1979, một mặt phải tích cực thanh toán hoặc thu hồi các khoản đã tạm ứng từ trước trong đơn vị và ngoài đơn vị. Về nguyên tắc, tài khoản tạm ứng, tài khoản phải thu phải trả đều phải cân bằng khi hết năm. Trường hợp đặc biệt, khoản tạm ứng, tạm cấp được cơ quan tài chính xác nhận có lý do chính đáng chưa thu hồi ngay trong năm 1979 được thì phải rút kinh phí năm sau (1980) để hoàn trả tạm ứng năm trước (1979). Chú ý, các khoản tạm ứng ra ngoài đơn vị là bất hợp pháp, cơ quan tài chính không thừa nhận các số tiền này và sẽ thu hồi về ngân sách trong dịp cuối năm, khi xét, giải quyết số dư tài khoản tiền gửi của đơn vị nhận tạm ứng. 3. Thanh toán các tài khoản tiền gửi ở Ngân hàng Nhà nước. Các tài khoản tiền gửi ở Ngân hàng Nhà nước (phần liên quan đến ngân sách Nhà nước) của tất cả các cơ quan xí nghiệp. nông lâm trường, công trường ... (trừ tiền gửi vốn lưu động, tiền gửi của Đảng Cộng sản Việt Nam các cấp có quy định riêng, số kinh phí năm 1980 được cấp trước vào cuối năm 1979) đều phải thanh toán trước khi hết năm (theo quy định tại phụ lục thông tư Liên Bộ Tài chính - Ngân hàng số 14 TT/LB ngày 25/11/1977 - về khoá sổ thu, chi ngân sách cuối năm 1977) nhằm ngăn chặn triệt để tình trạng chiếm dụng và sử dụng trái phép vốn ngân sách và làm cho công tác tài vụ kế toán của tất cả các đơn vị được lành mạnh, rõ ràng. Ngày 24/12/1979 các đơn vị phải làm đầy đủ thủ tục nộp ngân sách những khoản tiền nằm trong tài khoản tiền gửi có nguồn gốc là vốn ngân sách , kể cả là quỹ trái phép . Việc lập bảng kê những số dư của tài khoản tiền gửi, lấy xác nhận của Ngân hàng nơi mở tài khoản và đề nghị cơ quan tài chính cho chuyển sang năm 1980 phải làm xong từ ngày 26 đến 31/12/1979 . - Bộ Tài chính ở Hà Nội và trạm thường trú của Bộ tại thành phố Hồ Chí Minh xét duyệt cho chuyển số dư tiền gửi sang năm sau đối với các đơn vị dự toán Trung ương đóng ở hai thành phố này. Các đơn vị dự toán Trung ương đóng ở các địa phương khác, Bộ Tài chính uỷ quyền cho các Sở, Ty tài chính xét duyệt - Sở, Ty Tài chính xét duyệt cho chuyển đối với tất cả các đơn vị dự toán cấp tỉnh, thành phố và các đơn vị Trung ương được uỷ quyền nói trên . - Ban Tài chính giá cả huyện chỉ xét duyệt cho chuyển đối với đơn vị dự toán trực thuộc ngân sách cấp huyện . 4. Nộp kinh phí thừa và huỷ bỏ hạn mức còn lại cuối năm 1979. Trước ngày, giờ khoá sổ thu chi ngân sách của Ngân hàng Nhà nước , tất cả các khoản thanh toán, thu hồi thuộc năm 1979 cũng như số tiền mặt tồn quỹ cuối năm 1979 đều phải nộp trả lại hết vào ngân sách. Trong thời gian chỉnh lý , từ 1/1/1980 đến 31/3/1980, nếu các đơn vị nào còn kinh phí thừa tiếp tục nộp hết. Cơ quan Ngân hàng Nhà nước hạch toán các số tiền này và o tài khoản chi ngân sách năm trướ c trên sổ sách và trên báo cáo kế toán ngân sách năm 1980. Sáng ngày 1/4/1980 hai cơ quan Tài chính và Ngân hàng Nhà nước tiến hành đối chiếu, phân tích và làm thủ tục chuyển ghi thu giảm cấp phát hoặc thu hồi tạm ứng thuộc năm 1979. Kinh phí thừa thuộc năm 1979 nộp sau ngày 31/3/1980 sẽ hạch toán vào tài khoản "Thu hồi khoản chi năm trước" thuộc ngân sách năm 1980. Hạn mức kinh phí thuộc các cấp ngân sách năm 1979 còn lại ở Ngân hàng Nhà nước đến ngà y khoá sổ mặc nhiên được huỷ bỏ , không một đơn vị nào được rút chi tiêu nữa và cũng không phải làm thủ tục chuyển trả cấp trên nữa. Yêu cầu là phải đối chiếu số liệu với Ngân hàng Nhà nước và phải làm báo cáo lên trên về việc huỷ bỏ này. Cần đặc biệt chú ý : Đối với kinh phí hạn mức về lương và phụ cấp lương tháng 12/1979, cơ quan Ngân hàng Nhà nước cơ sở phải hết sức cố gắng cấp phát đủ cho các đơn vị dự toán trước ngày giờ khoá sổ để kịp trả cho cán bộ, công nhân, viên chức trước khi hết năm . Trường hợp cá biệt, nơi nào có khó khăn quá lớn về tiền mặt, Ngân hàng báo cáo lên Ngân hàng Trung ương để giải quyết . 5. Chuẩn bị kinh phí chi tiêu đầu năm 1980. Trong tháng 12/1979 tất cả các Bộ, các ngành, các Sở, Ty chủ quản, các Ban phòng ở huyện đã phân cấp, có trách nhiệm quan hệ với cơ quan Tài chính và Ngân hàng Nhà nước cùng cấp chuẩn bị và cấp phát kinh phí cho năm 1980 để kịp có thông báo phê chuẩn hạn mức hoặc cấp lệnh chi tiền để chi tiêu tháng 1 và quý I năm 1980; đảm bảo các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xây dựng cơ bản hay sự nghiệp hành chính ngay từ đầu năm 1980 của bản thân cơ quan chủ quản và các đơn vị trực thuộc đều được liên tục, không do vì khoá sổ thu chi ngân sách năm trước mà gặp khó khăn trở ngại vào đầu năm 1980. III. Thời gian khoá sổ Việc khoá sổ thu chi ngân sách Nhà nước năm 1979 tại Ngân hàng Nhà nước cơ sở (ngân hàng nội địa và ngân hàng ngoại thương) thống nhất tiến hành vào 16 giờ ngày 31/12/1979 . IV. Công việc phải tiến hành sau khi Ngân hàng Nhà nước khoá sổ. 1.
Sau khi khoá sổ thu, chi ngân sách, Ngân hàng Nhà nước các cấp phải đảm bảo thời hạn và nội dung điện báo như đã quy định trong thông tư Liên Bộ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước số 14 TT/LB ngày 25/11/1977. 2. Số dư tài khoản tiền gửi của những đơn vị dự toán mà ngân hàng cơ sở đã trích nộp vào ngân sách ngày 31/12/1979, Ngân hàng phải lập bảng kê chi tiết số tiền đã trích nộp của từng cơ quan, đơn vị và gửi: - Ban Tài chính giá cả huyện về số trích nộp ngân sách huyện. - Ngân hàng tỉnh, thành phố và số trích nộp của 3 cấp ngân sách Ngân hàng tỉnh, thành phố tổng hợp và gửi: + Sở, Ty Tài chính về số trích nộp vào ngân sách cấp tỉnh, thành phố + Ngân hàng Nhà nước Trung ương (Vụ Kế toán và quản lý quỹ ngân sách) 2 bản về số trích nộp vào ngân sách Trung ương (chậm nhất là ngày 31/1/1980 đã có ở Trung ương) để Ngân hàng Trung ương lưu 1 bản và gửi một bản cho Bộ Tài chính. 3. Những số dư tài khoản tiền gửi của các đơn vị, công trường xây dựng cơ bản chuyển nộp về chi nhánh ngân hàng kiến thiết tỉnh, thành phố, cũng như những số dư tài khoản tiền gửi của các đơn vị bộ đội, công an nhân dân vũ trang chuyển nộp về tài khoản của Cục tài vụ Bộ Quốc phòng hoặc Cục hậu cần, Bộ Tư lệnh công an nhân dân vú trang hoặc Cục tài vị Bộ Nội vụ; sẽ do cơ quan chủ quản tổng hợp, theo dõi và phân phối với cơ quan Tài chính cùng cấp để xử lý và báo cáo với Bộ Tài chính. Điều cần lưu ý: Các công trình xây dựng cơ bản do hai nguồn vốn đầu tư: vốn ngân sách cấp phát và vốn tín dụng của Ngân hàng Nhà nước . Do đó số dư tài khoản tiền gửi về xây dựng cơ bản cũng phải phân tích rõ hai nguồn vốn nói trên để không xử lý lẫn lộn. Đối với các đơn vị quân đội tham gia xây dựng kinh tế, số dư tài khoản tiền gửi đến cuối năm 1979 phần vốn sản xuất kinh doanh còn lại phải trả về Bộ Tài chính, còn số kinh phí do Bộ quốc phòng cấp nay còn thừa, phải chuyển về tài khoản của Cục tài vụ Bộ Quốc phòng để xử lý. V. Tổ chức thực hiện. Nhận được thông tư này, cơ quan Tài chính - Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố có trách nhiệm phối hợp tổ chức nghiên cứu trong nội bộ - Chú trọng hướng dẫn chu đáo, kỹ lượng cho các Ban Tài chính giá cả và Ngân hàng huyện và phổ biến cho tất cả các đơn vị thuộc phạm vi đối tượng thi hành. Những thời hạn quy định về khoá sổ, cấp phát, kê khai thanh toán các khoản tiền gửi .. . phải được thông báo sớm cho các đơn vị bằng văn bản và niêm yết ở Ngân hàng Nhà nước cơ sở để tất cả các đơn vị giao dịch được biết và làm các thủ tục cần thiết được kịp thời, tránh tình trạng do không được phổ biến chu đáo mà có hiện tượng chấp hành thiếu nghiêm chỉnh chế độ khoá sổ thu, chi ngân sách Nhà nước.