THÔNG TƯ Hướng dẫn thi hành điều lệ xử phạt vi cảnh về mặt tài sản Thi hành nghị định số 143-CP ngày 27/5/1977 của Hội đồng Chính phủ về Điều lệ xử phạt vi cảnh
sau khi thống nhất ý kiến với các Bộ hữu quan, Bộ Tài chính hướng dẫn việc thu, nộp tiền phạt vi cảnh, thi hành thống nhất trong cả nước như sau: I. THU TIỀN PHẠT VI CẢNH 1. Tại chương III,
Điều 26, 27, 28, 29 của Điều lệ, thủ tướng Chính phủ đã quy định quyền hạn được phạt bằng tiền của những cán bộ được giao quyền phạt vi cảnh thuộc ngành Côngan, ngành Kiểm lâm, Thuỷ sản, Thương nghiệp, Y tế, Giao thông Vận tải trong khi thừa hành công vụ. Mỗi khi phạt tiền đối với nhũng hành động vi phạm luật lệ, các cán bộ có thẩm quyền nói trên phải giao cho người bị phạt một tờ biên lai theo mẫu thống nhất đính kèm do Sở, Ty tài chính tỉnh, thành phố in và thống nhất quản lý.
2. Chi phí về việc in biên lai do ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đài thọ. Các Sở, Ty tài chính quản lý và cấp sổ biên lai cần thiết cho các Sở, Ty chủ quản được giao nhiệm vụ xử phạt để các Sở, Ty này phân phối cho các đơn vị trực thuộc của mình trong địa phương. Đối với các cơ quan trung ương đóng ở địa phương được giao nhiệm vụ xử phạt cũng nhận số biên lai cần thiết tại Sở, Ty tài chính địa phương nơi cơ quan đó làm nhiệm vụ.
3. Để theo dõi, quản lý chặt chẽ số thu về phạt vi cảnh, phải quản lý chặt chẽ số biên lai phát ra:
a) Biên lai được in thành ba loại và ghi rõ loại biên lai phạt tiền 1đ,00, 2đ,00 và 5đ,00. Số lượng biên lai loại 1đ,00 cần được in nhiều hơn.
b) Biên lai được đóng thành từng quyển, có đánh số thứ tự của từng quyển và riêng cho từng loại: loại 1đ,00 có số thứ tự riêng, loại 2đ,00 và 5đ,00 có số thứ tự riêng. Mỗi quyển gồm 50 tờ, để tiện cho cán bộ, chiến sỹ đem theo khi làm nhiệm vụ. Mỗi tờ cũng phải có số thứ tự ghi vào cả phần cuống và phần giao cho người bị phạt: hai phần cùng ghi một số giống nhau, để tiện khớp lại khi có khiếu nại và kiểm tra khi cần thiết.
c) Khi giao cho cán bộ, chiến sỹ sử dụng biên lai để thu tiền phạt, cơ quan, đơn vị,...cơ sở thừa hành nhiệm vụ phải đóng dấu giáp lai một nửa vào phần cuống, một nửa vào phần giao cho người bị phạt, phải đóng dấu rõ ràng để tiện kiểm tra và phòng ngừa giả mạo biên lai. Khi thu tiền phạt và cấp biên lai, cán bộ có thẩm quyềnxử phạt phải ghi đầy đủ nội dung vào những chỗ còn để trống, cuối cùng ghi rõ họ tên thật và chữ ký của mình vào biên lai ở cả phần cuống và phần giao cho người bị phạt.
d) Các Sở, Ty tài chính giao biên lai cho các Sở, Ty công an, Kiểm lâm, Thuỷ sản, Thương nghiệp, Y tế, Giao thông Vận tải hoặc cho các cơ quan trung ương đóng ở địa phương được giao nhiệm vụ sử phạt vi cảnh, cũng như khi các Sở, Ty, các cơ quan này nhận số biên lai của Sở, Ty tài chính và giao lại cho các đơn vị trực thuộc, đều phải mở sổ ghi chép rõ ràng để thường xuyên nắm được số biên lai nhập, xuất, tồn kho, tiện cho việc theo dõi, kiểm tra, thanh toán sau này. Nội dung sổ theo dõi phải đảm bảo các yêu cầu như sau:
+ Khi nhận biên lai về: Phải ghi rõ số lượng biên lai (bao nhiêu quyển), có phân tích từng loại 1đ,00, 2đ,00.v.v, trị giá thành tiền từng loại và tổng cộng trị giá toàn bộ số biên lai đã nhận.
+ Khi giao biên lai cho các đơn vị phải ghi rõ:
Họ, tên, chức vụ người nhận
Số và ngày của giấy giới thiệu đến nhận biên lai
Cơ quan, đơn vị giới thiệu
Tổng số quyển biên lai đã nhận
Phân tích riêng từng loại:
Loại 1đ,00: - Số quyển
Số hiệu quyển biên lai (Từ số...đến số...)
Trị giá thành tiền
Loại 2đ,00: - Số quyển
Số hiệu quyển biên lai (Từ số...đến số...)
Trị giá thành tiền
Loại 5đ,00:- Như trên
Tổng cộng trị giá toàn bộ biên lai đã nhận
Chữ ký của người nhận biên lai
+ Cuối tháng phải cộng sổ theo dõi số biên lai đã nhận và đã giao rút ra số dư phản ảnh số biên lai tồn kho. Hàng quý phải đối chiếu số dư trên sổ sách với tồn kho thực tế. Nếu có chênh lệch, phải kiểm tra, xác minh lập biên bản, báo cáo nguyên nhân, quy trách nhiệm cụ thể báo cáo cấp trên có thẩm quyền xét, xử lý theo nguyên tắc sẽ nói ở phần sau.
II. THANH TOÁN TIỀN NỘP PHẠT VÀO NGÂN SÁCH VÀ THANH TOÁN BIÊN LAI GIAO NHẬN
1. Thanh toán tiền nộp phạt vào ngân sách:
Khoản thu về tiền phạt vi cảnh là khoản tạp thu của ngân sác Nhà nước. Tất cả các khoản phạt vi cảnh bằng tiền đều nộp vào ngân sách tỉnh, thành phố (kể cả những khoản tiền do các đơn vị trung ương thu) và ghi vào loại 5, khoản 116, hạng 4, mục lục ngân sách hiện hành.
Riêng phần thu ở xã được nộp vào ngân sách xã.
Việc thu nộp tiền phạt vào ngân sách địa phương phải thực hiện hàng tuần hoặc hàng tháng do các Sở, Ty tài chính thống nhất với các Sở, Ty chủ quản quy định và phải thu nộp hết vào Ngân sách, không được dùng tiền thu về phạt vi cảnh vào bất cứ việc gì của đơn vị hoặc cá nhân. Khi thu nộp tiền vào ngân sách ở Ngân hàng Nhà nước đều phải có giấy tờ giao nhận giữa Ngân hàng Nhà nước và đơn vị nộp tiền.
2. Việc thanh toán số biên lai đã giao, nhận giữa cán bộ trực tiếp thu tiền phạt với cơ quan quản lý cán bộ đó, giữa cơ quan cấp dưới với cơ quan cấp trên, giữa Sở, Ty chủ quản với Sở, Ty tài chính và giữa đơn vị trực thuộc trung ương với Sở, Ty tài chính nơi đơn vị đó đóng trụ sở, được quy định như sau:
Đối với ngành
Công an
Đối với các ngành khác
Giữa cán bộ trực tiếp thu tiền với cơ quan quản lý cán bộ đó
hàng ngày
hàng tuần
Giữa cơ quan cấp xã hoặc tương đương với cơ quan cấp huyện hoặc tương đương
hàng tháng
hàng quý
Giữa cơ quan cấp huyện hoặc tương đương với cơ quan cấp tỉnh hoặc thành phố, giữa Sở, Ty chủ quản với Sở, Ty tài chính hoặc giữa đơn vị trực thuộc trung ương với Sở, Ty tài chính.
hàng quý
Sáu tháng
Lịch thanh toán, ngày tháng cụ thể, do Sở, Ty tài chính thống nhất ý kiến với các Sở, Ty, đơn vị chủ quản để quy định.
Điều cần chú ý là : Tuy cán bộ cấp xã hoặc tương đương nộp tiền thu về phạt vi cảnh vào ngân sách xã hoặc tương đương, nhưng vẫn phải thanh toán biên lai với cơ quan cấp huyện là cơ quan đã giao biên lai cho xã.
3. Yêu cầu của việc thanh toán biên lai.
a) Cơ quan tiếp nhận việc thanh toán phải kiểm tra cuống biên lai, xác minh số biên lai đã sử dụng để thu tiền phạt nằm trong số biên lai trước đây đã giao cho đơn vị thanh toán, nhằm phát hiện trường hợp dùng biên lai giả hoặc tự động dùng loại biên lai khác không do Sở, Ty tài chính in để thu tiền phạt của nhân dân.
b) Phải đảm bảo chế độ quản lý tiền phạt: Không được dùng tiền thu về phạt vi cảnh vào bất cứ việc gì khác ngoài việc thoái thu trả lại người khiếu nại (sẽ nói rõ ở phần sau), không được để quá thời hạn nộp tiền, không để đọng tiền hoặc giữ tiền lại ở đơn vị.
c) Ít nhất phải sử dụng hết hai phần ba số biên lai nhận đợt trước rồi mới được nhận thêm đợt sau.
4. Nội dung thanh toán
a) Giữa cán bộ trực tiếp thu tiền với cơ quan quản lý cán bộ đó: Thanh toán số biên lai đã sử dụng để thu tiền phạt, số đã thu hồi do đương sự được miễn hoặc giảm mức tiền phạt, số còn lại: Tất cả đều phải kê rõ số lượng biên lai từng loại, trị giá thành tiền; đồng thời, phải giao lại cho cơ quan số tiền phạt đã thu, khớp đúng với trị giá số biên lai đã sử dụng, trừ đi trị giá số biên lai đã thu hồi. Phải giao lại cho cơ quan tất cả những biên lai chưa sử dụng và cuống biên lai đã sử dụng. Những biên lai đã thu hồi phải ghi ở mặt sau quyết định cuối cùng của người bị phạt đã khiếu nại và đã được trả lai số tiền phạt.
b) Giữa cơ quan cấp dưới và cơ quan cấp trên: Thanh toán số biên lai theo chi tiết như trên; còn số tiền phạt đã thu thì cơ quan cấp dưới trực tiếp nộp vào Ngân hàng Nhà nước nơi thường xuyên giao dịch rồi đính kèm giấy nộp tiền có ký nhận của Ngân hàng, cùng với những tờ biên lai đã thu hồi vào báo cáo thanh toán gửi lên cấp trên. Cuống biên lai đã sử dụng thì lưu lại làm chứng từ, số chưa sử dụng cũng để lại để tiếp tục sử dụng, không phải đính kèm với báo cáo thanh toán.
c) Giữa Sở, Ty chủ quản với Sở, Ty tài chính: Sở, Ty chủ quản tổng hợp các báo cáo thanh toán của các cơ quan trực thuộc, lập báo cáo thanh toán tổng hợp, trong đó cũng ghi rõ số lượng và trị giá số biên lai từng loại đã nhận, đã sử dụng, số còn lại và số đã thu hồi theo chi tiết như trên; còn số tiền đã nộp vào ngân sách địa phương thì tổng hợp các giấy nộp tiền do các cơ quan trực thuộc gửi đến và đính kèm những giấy nộp tiền này, cùng với những biên lai đã thu hồi, vào báo cáo thanh toán tổng hợp để chứng minh. Sau khi kiểm soát đối chiếu và xác nhận báo cáo thanh toán tổng hợp, Sở, Ty tài chính hoàn lại cho Sở, Ty chủ quản những giấy nộp tiền và những biên lai đã thu hồi để Sở, Ty chủ quản lưu trữ bảo quản theo đúng chế độ chứng từ kế toán.
d) Giữa cơ quan, đơn vị trực thuộc trung ương với Sở, Ty tài chính
Nếu cơ quan trực thuộc trung ương nhận biên lai từ Sở, Ty tài chính rồi phân phối lại cho các đơn vị cấp dưới sử dụng thì những đơn vị này phải thanh toán với cơ quan cấp trên như đã quy định ở điểm b nói trên. Cơ quan trực thuộc trung ương sẽ tổng hợp và thanh toán với Sở, Ty tài chính như đã quy định ở điểm c nói trên.
Nếu cơ quan trực thuộc trung ương không có đơn vị cấp dưới, trực tiếp sử dụng biên lai để thu tiền phạt thì cũng thanh toán với Sở, Ty tài chính như đã quy định ở điểm b nói trên. Sau khi kiểm soát, đối chiếu và xác nhận báo cáo thanh toán, Sở, Ty tài chính cũng hoàn lại giấy nộp tiền và những biên lai đã thu hồi để cơ quan trực thuộc trung ương lưu trữ, bảo quản như các chứng từ kế toán.
Trong mọi trường hợp, phải đảm bảo nguyên tắc là: cơ quan, đơn vị trực thuộc trung ương đã nhận biên lai từ Sở, Ty tài chính nào thì phải thanh toán với Sở, Ty đó và gửi một bản báo cáo thanh toán về Bộ chủ quản ở trung ương để theo dõi, kiểm tra khi cần thiết.
III. THOÁI THU TIỀN PHẠT VI CẢNH
Theo điều lệ xử phạt vi cảnh, người bị phạt được quyền khiếu nại lên Thủ trưởng đơn vị của người cán bộ, chiến sỹ đã phạt hoặc khiếu nại lên Thủ trưởng cơ quan trên một cấp của người cán bộ, chiến sỹ đó.
Việc khiếu nại về số tiền phạt được xử lý như sau:
1. Khi người có thẩm quyền quyết định bác bỏ việc khiếu nại tức là duyệt y mức tiền đã phạt trước đây thì phải công bố quyết định đó và giải thích cho người bị phạt được rõ. Tuỳ trường hợp mà công bố miệng nếu người bị phạt khiếu nại miệng; hoặc bằng văn bản, có chữ ký và đóng dấu chính thức nếu người bị phạt có đơn khiếu nại chính thức.
2. Khi người có thẩm quyền quyết định miễn phạt hoàn toàn hay giảm mức tiền phạt thì phải thu hồi biên lai đã giao cho người bị phạt trước đây, gạch chéo 2 gạch ở mặt trước tờ biên lai đó và ghi vào mặt sau:
"Qua xem xét lại sự việc, quyết định miễn hoàn toàn số tiền phạt đã thu theo biên lai này" (hoặc: quyết định giảm mức tiền phạt theo biên lai này, thay bằng biên lai phạt số tiền là........đồng)
Tiếp đó, người có thẩm quyền ghi ngày tháng, ký tên, đóng dấu rồi trả lại biên lai này cho cán bộ, chiến sỹ hoặc cơ quan đã phạt để chấp hành quyết định cuối cùng. Cụ thể là:
Nếu được miễn phạt hoàn toàn: Trích từ số tiền thu nộp phạt để trả lại cho đương sự số tiền đã phạt;
Nếu được giảm mức tiền phạt: lập biên lai khác the đúng quyết định cuối cùng và cũng trích từ tiền thu nộp phạt để trả lại cho đương sự số chênh lệch giữa số tiền đã phạt trước đây với số tiền phạt theo quyết định cuối cùng;
Lấy chữ ký nhận của đương sự ở góc dưới, bên trái, mặt sau từ biên lai thu hồi;
Xếp những tờ biên lai thu hồi này thành tập riêng để đính kèm báo cáo thanh toán gửi cơ quan cấp trên hoặc biên bản thanh toán gửi cơ quan tài chính.
3. Việc chấp hành quyết định cuối cùng trên đây là trách nhiệm của cơ quan quản lý người cán bộ, chiến sỹ đã xử phạt. Cho nên, không nhất thiết bản thân người cán bộ, chiến sỹ đó phải thực hiện quyết định trên mà trong trường hợp người đó đã bàn giao cho người khác thừa hành công vụ thì người này phải giải quyết những công việc cụ thể đã nói ở trên.
IV. KẾ TOÁN THU, NỘP VÀ BẢO QUẢN CHỨNG TỪ, BIÊN LAI
1. Sau khi thanh toán với cán bộ, chiến sỹ trực tiếp thu tiền phạt, cơ quan nhận số tiền do cán bộ, chiến sỹ đó giao lại, phải tổ chức ghi chép kế toán theo các quy định sau đây:
a) Nếu cơ quan là một đơn vị kế toán, đã áp dụng chế độ kế toán đơn vị dự toán (ban hành kèm theo quyết định số 03 TC/TDT ngày 30/3/1972 của Bộ Tài chính) thì:
Khi nhận tiền do cán bộ, chiến sỹ giao lại, ghi:
Quỹ tiền mặt Nợ
Thanh toán thu nộp ngân sách Có
Khi thu hồi biên lai do người bị phạt khiếu nại, tức là thoái thu khoản tiền đã phạt theo biên lai đó, cũng như khi trích quỹ, đem nộp số tiền phạt vào ngân sách, đều ghi:
Thanh toán thu nộp ngân sách Nợ
Quỹ tiền mặt Có
b) Nếu cơ quan chỉ là một đơn vị thanh toán, chưa tổ chức thành đơn vị kế toán, nên áp dụng chế độ kế toán đơn, thì phải mở sổ ghi lần lượt từng số tiền do cán bộ, chiến sỹ đã thu và đã thoái thu. Đến thời hạn nộp tiền vào ngân sách phải cộng những số tiền đã thu, trừ đi những số tiền thoái thu rút ra số thực thu và làm giấy nộp tiền, nộp toàn bộ số thực thu vào ngân sách.
c) Trong mọi trường hợp, dù là đơn vị kế toán hay đơn vị thanh toán, số tiền phạt do cán bộ giao lại hằng ngày hoắc hằng tuần đều phải tập trung do thủ quỹ của cơ quan giữ, không được để tạn mạn mỗi người giữ một phần, tránh mọi sơ hở, tổn thất cho công quỹ. Dĩ nhiên, thủ quỹ phải mở sổ quỹ theo chế độ hiện hành và khi đến hạn nộp tiền phạt phải trích từ tồn quỹ chung này chuyển nộp vào ngân sách.
2. Các biên lai đều có giá trị tiền tệ nên chỉ khi nào thu tiền phạt mới phát biên lai ra. Do đó, việc bảo quản biên lai phải chặt chẽ, không để xẩy ra nhầm lẫn, mất mát, kể cả biên lai chưa sử dụng, đã sử dụng và biên lai đã thu hồi. Để bảo đảm yêu cầu này, ngoài việc tổ chức việc giao nhận có ghi chép sổ sách cụ thể như đã nói ở phần trên, công việc bảo quản biên lai và những chứng từ thanh toán biên lai cũng phải được thực hiện chu đáo, cụ thể là:
a) Cán bộ Sở, Ty tài chính được phân công bảo quản biên lai, cán bộ các cơ quan được giới thiệu đến nhận biên lai tại Sở, Ty tài chính cũng như cán bộ, chiến sỹ làm nhiệm vụ xử phạt, hoàn toàn chịu trách nhiệm về số biên lai đã được cơ quan giao cho, phài đếm và kiểm soát kỹ mỗi khi nhận biên lai từ cơ quan và khi giao lại cho cơ quan.
b) Thiếu hoặc mất một tờ biên lai nào, người có trách nhiệm phải bồi hoàn số tiền theo giá trị của tờ biên lai đó.
Nếu thiếu hoặc mất có lý do khách quan chính đáng thì phải lập biên bản ghi rõ số lượng thiếu hoặc mất, nguyên nhân, có đại diện cơ quan chứng kiến, xác nhận và gửi cho cơ quan cấp trên xét. Cơ quan này sẽ bàn bạc, thống nhất ý kiến với cơ quan tài chính đồng cấp để xử lý trong phạm vi trách nhiệm của mình hoặc báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố xử lý.
Việc thiếu hoặc mất biên lai xẩy ra ở cơ quan Tài chính do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố xét và quyết định.
Việc xét và quyết định bồi hoàn toàn bộ số tiền trị giá những biên lai thiếu hoặc mất, bồi hoàn một phần hay được miễn bồi hoàn phải theo đúng chế độ trách nhiệm vật chất ban hành tại Nghị định số 49-CP ngày 9/4/1968 của Hội đồng Chính phủ và Thông tư số 128 TT/LB ngày 24/7/1968 của liên Bộ Tài chính - Lao động - Tổng công đoàn.
c) Cuống biên lai đã sử dụng, những tờ biên lai đã thu hồi cùng với những bản lưu báo cáo thanh toán, giấy nộp tiền vào ngân sách, phải lưu ở cơ quan, đơn vị làm nhiệm vụ xử phạt vi cảnh trong thời gian 12 tháng; sau đó, phải chuyển cho bộ phận lưu trữ chung của cơ quan. Sau ba năm mới được tiêu huỷ.
V. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
1. Thông tư này thi hành kể từ ngày ký. Trong quá trình thi hành, các Bộ, các ngành hữu quan, Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố và các Sở, Ty tài chính thấy có khó khăn, trở ngại hoặc phát hiện có điểm nào chưa thích hợp, đề nghị phản ảnh cho Bộ tài chính để nghiên cứu bổ sung hoặc sửa đổi nếu xét thấy cần thiết.
2. Nhận được thông tư này, Sở, Ty tài chính báo cáo, xin ý kiến Uỷ ban Nhân dân tỉnh hoặc thành phố, tổ chức phổ biến cho các ngành được giao quyền xử phạt vi cảnh, kể cả các đơn vị trực thuộc trung ương đóng ở địa phương nếu có; và bàn bạc biện pháp thi hành ở địa phương. Từng ngành chịu trách nhiệm phổ biến, hướng dẫn cho các đơn vị trực thuộc và đến từng cán bộ, chiến sỹ được giao quyền hạn xử phạt vi cảnh để thi hành đúng, tránh mọi sơ hở để xẩy ra tham ô lợi dụng trong khi cán bộ và các đơn vị thừa hành nhiệm vụ.
3. Sở, Ty tài chính cho in đủ số biên lai cần thiết theo mẫu và khuôn khổ thống nhất cho toàn tỉnh hoặc thành phố từ đầu năm 1978, chậm nhất cũng không quá ngày 1/4/1978. Trong khi chờ đợi in xong sổ biên lai theo mẫu thống nhất, có thể tạm thời sử dụng biên lai hiện đang dùng của cơ quan Tài chính, cơ quan Kiểm lâm hoặc cơ quan Công an địa phương (nếu có), nhưng phải do Sở, Ty tài chính tổ chức quản lý thống nhất và hướng dẫn sử dụng theo đúng Thông tư này từ đầu năm 1978. Khi bắt đầu áp dụng biên lai theo mẫu thống nhất, hoặc biên lai tạm thời này phải thanh toán xong và huỷ bỏ số còn lại chưa sử dụng theo đúng các thủ tục đã quy định.