THÔNG TƯ Về việc lập quyết toán ngân sách năm 1978. Năm 1978 có một vị trí quan trọng đối với sự chuyển biến tình hình kinh tế cả nước và đối với việcc hoàn thành kế hoạch 5 năm 1976 - 1980. Yêu cầu về nhiệm vụ Tài chính Nhà nước năm 1978 cũng khẩn trương, đòi hỏi các ngành, các cấp, các đơn vị phải tập trung sức tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ từ khâu lập kế hoạch đến việc tổ chức sản xuất, công tác và quản lý kinh tế tài chính theo phương thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi cho kế hoạch và ngân sách các năm sau. Qua một năm phấn đấu chấp hành ngân sách Nhà nước năm 1978 trong điều kiện vừa sản xuất vừa chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, việc lập quyết toán ngân sách năm 1978 là một dịp kiểm điểm những kết quả đã đạt được trong việc thực hiện các chỉ tiêu và nhiệm vụ nói trên, và phải nhằm các yêu cầu cụ thể là: 1. Đánh giá một cách chính xác kết quả thu, chi ngân sách Nhà nước năm 1978 với kết quả hoạt động kinh tế trong năm, tác dụng của thu, chi ngân sách đối với nhiệm vụ phục vụ và thúc đẩy hoàn thành kế hoạch Nhà nước năm 1978, tạo nên những chuyển biến trong nền kinh tế quốc dân, đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới. 2. Xác định đúng đắn những tiến bộ, thiếu sót, tồn tại trong công tác quản lý tài chính và thực hiện thu chi đối với ngân sách Nhà nước, từ đơn vị cơ sở đến các cơ quan chủ quản, đảm bảo cho công tác lập,
xét duyệt và tổng hợp quyết toán ngân sách từ cơ sở đến khâu tổng hợp giữa Tài chính và Ngân hàng Nhà nước đưọc đầy đủ, chính xác, toàn diện và kịp thời. Để đạt được yêu cầu nói trên, Thông tư này quy định và hướng dẫn một số điểm trong việc lập quyết toán ngân sách phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế tài chính năm 1978, đề nghị các Bộ, các ngành, các địa phương nghiên cứu và cho tổ chức thi hành. A. ĐỐI VỚI QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC. 1. Năm 1978, Ngân hàng Nhà nước đã phát hành tiền Ngân hàng mới, lưu hành thống nhất trong cả nước. Tông tư Liên Bộ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước số 72-B/TT/LB ngày 20/5/1978 đã quy định thể thức quy đổi tiền Ngân hàng cũ ra tiền Ngân hàng mới trên sổ sách và báo cáo kế toán mới để quyết toán cả năm 1978 bằng tiền Ngân hàng mới. Tất cả các đơn vị dự toán Trung ương và địa phương, từ đơn vị cơ sở đến cơ quan chủ quản, đều phải soát lại việc quy đổi tiền nói trên, đối chiếu với Ngân hàng Nhà nước nơi giao dịch, đảm bảo khớp đúng đến từng loại, khoản, hạng, mục thu hoặc chi, đảm bảo cho quyết toán của từng ngành nhất trí với quyết toán tổng hợp về ngành đó của cơ quan Tài chính và Ngân hàng Nhà nước. 2. Về nguyên tắc, tất cả những số thu đã nộp vào ngân sách cũng như số thực chi đã quyết toán trong năm 1978, đều phải được tổng hợp đầy đủ trong Tổng quyết toán ngân sách Nhà nước năm 1978. Nhưng, để phản ánh đúng những thành tích, cố gắng những chuyển biến đã thực hiện trong năm 1978, quyết toán của mỗi ngành, mỗi địa phương đều phải phân tích rõ những số thu, tuy nộp trong năm 1978, nhưng không bắt nguồn từ kết quả kinh doanh, sản xuất hay tiết kiệm chi phí trong năm 1978 như: những khoản tiền thuế hoặc lãi năm trước, sang năm nay mới nộp, những khoản tồn đọng từ năm 1977 về trước, ... 3. Về thuyết minh quyết toán: Thông tư số 01.TC/QLNS ngày 4/3/1978 của Bộ Tài chính đã nêu lên những nội dung chủ yếu cần được phân tích sâu sắc nhằm chứng minh những chuyển biến trong công tác quản lý kinh tế tài chính về các mặt: - Khai thác khả năng tiềm tàng trong đơn vị, ngành, địa phương: sử dụng đất đai, rừng biển và các phương tiện sản xuất, nâng cao công suất máy móc thiết bị, làm ra nhiều sản phẩm, hàng hoá, nhiều giá trị sử dụng cho xã hội. - Nắm vật tư, hàng hoá vào trong tay Nhà nước: lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, hàng tiểu thủ công nghiệp, hàng xuất khẩu, lâm sản, hải sản, ... - Sử dụng hợp lý lực lượng lao động và nâng cao năng suất lao động; - Thực hiện tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng, hiệu quả sử dụng tiền vốn của Nhà nước; - Tình hình quản lý tài sản, vật tư, áp dụng các định mức tiêu hao vật chất trong sản xuất, xây dựng và thực hiện các tiêu chuẩn chi về sự nghiệp và hành chính; kết quả giảm giá thành và giảm chi phí lưu thông; - Kết quả nâng cao mức doanh lợi trong sản xuất, kinh doanh; nâng cao thu nhập thuần tuý tập trung vào ngân sách Nhà nước, quản lý vốn đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất. Đề nghị các Bộ, các ngành, các địa phương
căn cứ đặc điểm của ngành hoặc địa phương, cụ thể hoá những nội dung trên đây bằng những chỉ tiêu cụ thể và tổ chức hướng dẫn cho các đơn vị trực thuộc lập các bảng số liệu cơ bản về những chỉ tiêu đó, có so sánh kết quả thực hiện với kế hoạch, với năm trước, đình kèm với thuyết minh quyết toán của từng đơn vị, dùng làm cơ sở cho việc phân tích tổng hợp của từng ngành hay địa phương. 4. Để phản ánh tình hình quản lý kinh tế tài chính theo ngành kết hợp với quản lý theo lãnh thổ, đề nghị các Bộ, các ngành chú trọng tổ chức việc phân tích quyết toán theo từng ngành kinh tế kỹ thuật thuộc phạm vi hoạt động của ngành trong cả nước; đồng thời, đề nghị các địa phương cũng tiến hành phân tích quyết toán của tất cả các ngành có hoạt động ở địa phương. Có như vậy mới đảm bảo cho Tổng quyết toán ngân sách Nhà nước có căn cứ để vừa phân tích tổng hợp, toàn diện, vừa phân tích sâu về từng ngành kinh tế kỹ thuật trong cả nước và ở từng địa phương. B. ĐỐI VỚI QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG. 1. Năm vừa qua, quyết toán về thu nhập thuần tuý tập trung vào ngân sách của một số ngành có chênh lệch với số quyết toán tổng hợp về ngành đó của cơ quan Tài chính và Ngân hàng Nhà nước. Nguyên nhân vì: a. Các đơn vị cơ sở của mỗi ngành đóng rải rác ở nhiều tỉnh, thành phố, khi nộp tiền vào ngân sách, không ghi đúng khoản, hạng, mục theo mục lục ngân sách Nhà nước đã giành riêng cho ngành mình; b. Cơ quan Tài chính và Ngân hàng Nhà nước không kiểm soát kỹ các chứng từ nộp tiền vào ngân sách, không phát hiện được những trường hợp ghi sai như trên, nên đã hạch toán nhầm lẫn từ ngành này qua ngành khác; c. Tất cả các khoản thu nộp, không phân biệt do xí nghiệp Trung ương hay xí nghiệp địa phương nộp, đều được coi là khoản thu của Ngân sách Nhà nước ở địa phương và đều được phân chia theo những tỷ lệ nhất định giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương . Tỷ lệ này được ban hành vào giữa năm và việc điều chỉnh số thu nộp theo tỷ lệ mới, tại một số địa phương còn bỏ sót một số khoản chưa điều chỉnh. Cá biệt một số nơi còn phân chia lẫn lộn giữa các cấp ngân sách... d. Các Bộ chủ quản chưa chú ý tổng hợp và lập quyết toán thu của từng ngành, trong cả nước nên chưa có căn cứ đối chiếu số liệu với cơ quan Tài chính - Ngân hàng Nhà nước và không phát hiện được những trường hợp nhầm lẫn ở khoản mục nào hoặc ở địa phương nào... Năm nay, để khắc phục tình trạng như trên, đề nghị các Bộ, cơ quan ngang Bộ tổ chức cho tất cả các đơn vị trực thuộc lập biểu quyết toán thu nộp theo mẫu số 1 đính kèm, đối chiếu và lấy xác nhận của Ngân hàng Nhà nước nơi giao dịch trước khi gửi về Bộ chủ quản. Cơ quan này kiểm tra, so sánh với các tài khoản trên bảng tổng kết tài sản của đơn vị (nếu là xí nghiệp đã hạch toán kinh tế) hoặc bảng cân đối tài khoản (nếu là đơn vị hành chính và sự nghiệp) cuối cùng tổng hợp lập quyết toán thu nộp của toàn ngành theo mẫu số 2 đính kèm gửi Bộ Tài chính. 2. Một số Bộ, cơ quan ngang Bộ có những đơn vị ở phía Nam, hầu hết là những đơn vị mới thành lập từ sau ngày giải phóng, chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc lập quyết toán ngân sách hàng năm. Đề nghị các Bộ, cơ quan ngang Bộ quan tâm giúp đỡ những đơn vị này (nếu có), bố trí cán bộ có năng lực đi sát, giải quyết những khó khăn, vướng mắc và đôn đốc thi hành nghiêm túc chế độ quyết toán của Nhà nước, tránh để xẩy ra tình trạng như năm vừa qua: những đơn vị này đã kéo dài thời hạn lập và gửi quyết toán tới 2, 3 tháng sau so với chế độ quy định, khiến cho việc tổng hợp quyết toán của toàn ngành cũng bị chậm trễ quá nhiều so với các ngàng khác. 3. Về biểu mẫu quyết toán: Đề nghị các Bộ chuẩn bị những biểu mẫu như đã quy định trong các chế độ kế toán mà các đơn vị trực thuộc dang áp dụng, cùng với các biểu số liệu cơ bản đã nói trong điểm 2 phần A ở trên, và tổ chức in sẵn, cung cấp cho các đơn vị trực thuộc thi hành cho được thống nhất, đầy đủ và kịp thời. Riêng về biểu "báo cáo quyết toán chi" đính kèm thông tư số 01 TC/QLNS ngày 4/3/1978 của Bộ Tài chính, năm nay không phải lập nữa ví quyết toán ngân sách năm 1978 đã được tiến hành bằng một thứ tiền Ngân hàng mới, thống nhất. 4. Đề nghị các Bộ đảm bảo thời hạn lập và gửi quyết toán ngân sách 1978 như đã quy định trong các văn bản của Nhà nước đã được trích lục kèm theo Thông tư số 17 TC/QLNS ngày 13/11/1976 của Bộ Tài chính, cụ thể là: a. Đối với các đơn vị dự toán hành chính, sự nghiệp. (Theo chế độ kế toán đơn vị dự toán ban hành kèm quyết định số 03 TC/TDT ngày 30/3/1972 của Bộ Tài chính): - Đơn vị cơ sở gửi đơn vị cấp II: trước ngày 15/1/1979 - Đơn vị cấp II gửi đơn vị cấp I: trước ngày 25/1/1979 - Đơn vị cấp I gửi cơ quan Tài chính đồng cấp: trước ngày 10/2/1979. b. Đối với các xí nghiệp sản xuất, kinh doanh, xây dựng cơ bản: (Theo điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước ban hành kèm Nghị định số 175-CP ngày 28/10/1961 của Hội đồng Chính phủ): - "Bộ chủ quản phải xét duyệt báo cáo quyết toán của các đơn vị kế toán phụ thuộc" và "nộp báo cáo quyết toán tổng hợp của ngành cho Bộ Tài chính trong vòng 90 ngày sau khi hết năm" (tức là trước ngày 31/3/1979 đối với quyết toán tổng hợp năm 1978). C. ĐỐI VỚI QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG: 1. Trong năm 1978, nhiều địa phương đã tiến hành phân cấp quản lý tài chính cho một số huyện, thí nghiệm việc hình thànhvà quản lý ngân sách ở huyện. Đến nay, lập tổng quyết toán ngân sách địa phương, phải chú ý trước hết giúp đỡ những huyện thí điểm hoàn thành tổng quyết toán ngân sách huyện để tổng hợp đầy đủ vào tổng quyết toán ngân sách địa phương. Dĩ nhiên, tổng quyết toán thu và chi do huyện lập chỉ tính từ ngày bắt đầu phân cấp quản lý tài chính, hình thành ngân sách huyện, cho đến cuối năm; thời kỳ chưa phân cấp thì số thu và chi thực hiện ở huyện mặc nhiên đã được tổng hợp và tổng quyết toán ngân sách của tỉnh hoặc thành phố. Điều cần lưu ý là: Từ việc phân cấp quản lý tài chính cho huyện này và do ngân sách huyện tuy đã quản lý riêng, vẫn nằm trong ngân sách địa phương, cho nên khi cân đối thu, chi ngân sách địa phương, số tồn quỹ cũng như số kết dư cuối năm của ngân sách địa phương sẽ bao gồm 2 phần:
Phần của ngân sách cấp tỉnh hoặc thành phố tức là hiệu số giữa tổng thu trừ (-) tổng số chi của các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh hoặc thành phố và của các huyện, quận chưa được phân cấp quản lý.
Phần này được tập trung và ký gửi ở Ngân hàng nghiệp vụ thị xã hoặc thành phố.
Phần cuả ngân sách các huyện đã được phân cấp quản lý tài chính tức là hiệu số giữa tổng quyết toán thu trừ (-) tổng quyết chi của ngân sách của từng huyện, ký gửi ở Ngân hàng Nhà nước huyện.