THÔNG TƯ Hướng dẫn thi hành Quyết định 91 TTg ngày 15 tháng 4 năm 1981 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh giá thu mua và giá bán lẻ muối ở các tỉnh phía Bắc Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 91 TTg ngày 15 tháng 4 năm 1981 về việc điều chỉnh giá thu mua và giá bán lẻ muối ở miền Bắc, Bộ Tài chính hướng dẫn một số vấn đề cụ thể dưới đây: 1. Nắm vững nội dung và ý nghĩa việc điều chỉnh giá mới : Nhà nước điều chỉnh giá thu mua và giá bán lẻ muối ở các tỉnh miền Bắc nhằm: - Bảo đảm cho các cơ sở sản xuất muối đủ bù đắp những hao phí vật chất và có lãi, thúc đẩy sản xuất muối phát triển, thoả mãn nhu cầu muối cho sản xuất và đời sống nhân dân. - Bảo đảm cho các tổ chức thu mua - bán buôn - bán lẻ muối đủ chi phí lưu thông cần thiết và lợi nhuận định mức. - Bảo đảm nguồn thu thuế muối của Ngân sách Nhà nước. 2. Giá thu mua và giá bán buôn công nghiệp
Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã cùng với Uỷ ban Vật giá Nhà nước - Bộ Công nghiệp thực phẩm xác định giá bán buôn công nghiệp và mức thuế muối như sau: Cơ cấu giá bán buôn công nghiệp - Hà Nam ninh - Thanh hoá - Nghệ tĩnh - Quảng Ninh - Hải phòng, Thái Bình - Bình Trị thiên a) Giá thu mua muối ráo 750đ/Tấn 850đ/Tấn b) Phí tổn thu mua, bảo quản lại định mức 80đ/Tấn 90đ/Tấn c) Thuế muối 970đ/Tấn 860đ/Tấn Giá bán buôn C.N 1.800đ/Tấn 1.80đ/Tấn Giá thu mua muối, giá bán buôn công nghiệp muối bắt đầu thực hiện từ ngày 1 tháng 5 năm 1981. 3. Thuế muối : Thuế muối là bộ phận cấu thành trong giá bán buôn công nghiệp muối, vì vậy từ ngày 1 tháng 5 năm 1981 thuế muối thu theo mức quy định trên. Các tổ chức thu mua muối: Chi cục muối, các Công ty Thương nghiệp trực tiếp thu mua muối của các cơ sở sản xuất phải nộp thuế muối cho cơ quan thuế địa phương khi bán muối cho các đơn vị khác hoặc bán trực tiếp cho người tiêu dùng. Thời hạn nộp thuế muối sẽ do cơ quan thuế địa phương quy định, tuỳ theo số thu nhiều hay ít mà định 5, 10, 15, 20 ngày nộp một lần. Số thuế muối phải nộp = trọng lượng (tấn) muối bán ra trong kỳ x mức thuế muối quy định cho 1 tấn muối. Thuế muối là mức thu cố định, nguồn thu ổn định của Ngân sách Nhà nước, các đơn vị nộp thuế muối phải nộp đầy đủ, kịp thời cho Ngân sách Nhà nước. 4. Khoản trợ giá muối khai hoang và giá thu mụa muối vượt kế hoạch : - Đối với muối khai hoang, vẫn được áp dụng theo quyết định số 24/TTg ngày 16 tháng 4 năm 1967 của Thủ tướng Chính phủ. Các tổ chức thu mua phải quản lý chặt chẽ diện tích khai hoang, thời hạn khai hoang để bảo đảm trợ giá chính xác khuyến khích mở rộng diện tích khai hoang. - Đối với muối sản xuất vượt mức kế hoạch hàng năm vẫn được trả thêm 150đ/Tấn theo chỉ thị số 184/V3 ngày 19 tháng 1 năm 1981 của Thủ tướng Chính phủ, các tổ chức thu mua muối phải xây dựng và giao kế hoạch chặt chẽ đối với các đơn vị sản xuất muối để xác định đúng đắn số muối sản xuất vượt kế hoạch có tác dụng kích thích tăng năng suất lao động. Cục Muối phải lập kế hoạch thu mua và kế hoạch tài vụ hàng năm xác định các khoản phải thu phải bù theo từng quý gửi cho Bộ Tài chính
xét cấp bù. 5. Quản lý vốn và thặng dư: Khi bắt đầu thực hiện giá thu mua muối, các Sở Ty Tài chính phải cùng các Chi cục muối kiểm kê lại tồn kho, tính toán lại định mức vốn lưu động theo giá mới, cơ quan tài chính xét cấp bổ sung thêm định mức vốn lưu động theo tỷ lệ quy định. Thặng số thu mua quy định cho từng khu vực theo quyết định 91 TTg ngày 15 tháng 4 năm 1981 của Thủ tướng Chính phủ là giới hạn để xác định giá bán buôn công nghiệp. Hàng năm các Chi cục muối phải lập kế hoạch phí lưu thông theo chỉ tiêu định mức của Nhà nước - gắn liền với kế hoạch thu mua và bán ra, kế hoạch tài vụ của đơn vị kèm theo các biện pháp phấn đấu giảm hao hụt, giảm chi phí, tăng tích luỹ cho nhà nước. 6. Tăng cường quản lý thị trường muối : Nhà nước đã có quyết định điều chỉnh giá thu mua, giá bản lẻ muối, các cơ quan thuế phải có kế hoạch tăng cường quản lý thị trường muối, hỗ trợ tích cực cho việc thu mua muối đảm bảo tập trung tuyệt đại bộ phận muối sản xuất vào tay Nhà nước, chống những hành động mua bán vận chuyển muối trái phép trốn thuế muối.