THÔNG TƯ Hướng dẫn việc tính toán lại kế hoạch tài chính và ngân sách Nhà nước năm 1981 Ngân sách Nhà nước năm 1981 (đầu năm) đã được Quốc hội khoá VI, kỳ họp thứ 7 thông qua với tổng số thu chi thăng bằng, nhiệm vụ thu và yêu cầu chi ngân sách đã được tính toán giao cho các Bộ và các địa phương. Đến nay, thực hiện chỉ thị số 109-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục cải tiến công tác phân phối lưu thông và các quyết định của Hội đồng Chính phủ về điều chỉnh giá bán lẻ và một số biện pháp về lương. Các chính sách mới này có tác động trực tiếp đến các nguồn thu và yêu cầu chi của các ngành, các địa phương, các đơn vị cơ sở và kế hoạch tài chính và Ngân sách Nhà nước. Vì vậy, Bộ Tài chính hướng dẫn một số điểm cần thiết trong việc tính toán lại kế hoạch tài chính và thu chi Ngân sách Nhà nước năm 1981 như sau: I- Khai thác mọi khả năng tăng thu Nhà nước, tính toán đầy đủ các nguồn thu tăng lên vào Ngân sách Nhà nước trong tháng 6 và 6 tháng cuối năm 1981, điều chỉnh kế hoạch thu cả năm được tích cực và đúng mức : Các quyết định của Đảng và Nhà nước tạo ra khả năng tăng nguồn thu của Ngân sách Nhà nước. Việc xây dựng kế hoạch khai thác các nguồn thu, tập trung nguồn thu vào Ngân sách Nhà nước là một việc có ý nghĩa quyết định bảo đảm các yêu cầu tăng chi, ổn định nền tài chính và tiền tệ Nhà nước. Các khả năng tăng thu bao gồm nhiều mặt và trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, cần được phát hiện và có kế hoạch khai thác, phải được tính toán chặt chẽ và cụ thể: 1/ Thực hiện các Quyết định 25-26/CP, chỉ thị 64/TTg, Chỉ thị 109-CT/TW của Bộ Chính trị và các quyết định gần đây của Chính phủ, các ngành, các địa phương và các đơn vị cơ sở cần chấn chỉnh công tác quản lý xí nghiệp, củng cố hạch toán kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, mở rộng kinh doanh nhất là tích cực khai thác nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương, tận dụng phế liệu, phát huy công suất máy móc thiết bị, sử dụng tốt lao động tăng năng suất lao động, tiết kiệm vật tư năng lượng, phấn đấu đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch; một mặt khác phải quản lý chặt chẽ sản phẩm, chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật giao nộp sản phẩm tập trung nắm nguồn hàng vào trong tay Nhà nước, tổ chức tốt công tác phân phối lưu thông. Trên cơ sở đó, các Bộ, các địa phương và các đơn vị cơ sở tính toán lại đúng mức khả năng tăng năng suất - kinh doanh trong tháng 6 và 6 tháng cuối năm 1981 và tính toán đầy đủ các nguồn thu tăng lên của Ngân sách Nhà nước, bao gồm cả 3 phần kế hoạch, kể cả thu quốc doanh, trích nộp lợi nhuận, chú ý tính toán đưa đầy đủ vào kế hoạch thu ngân sách, thu quốc doanh và trích nộp lợi nhuận của phần kế hoạch tự làm và phần kế hoạch sản xuất phụ (trong kế hoạch đầu năm các khoản thu này chưa được tính toán hoặc tính toán chưa đầy đủ). 2/ Việc điều chỉnh giá bán lẻ hàng hoá vật tư tạo ra nguồn chênh lệch giá giữa giá mới với giá cũ, tương ứng với khối lượng hàng hoá bán ra. Nguồn chênh lệch giá này được tạo ra ở các khâu khác nhau như đã hướng dẫn tại Thông tư số 13-TC/VP ngày 1/6/1981 của Bộ Tài chính, nay sửa lại như sau: Đối với các loại hàng hoá, vật tư bán một giá hay bán theo những mức giá khác nhau: a) Nếu là hàng nhập khẩu thì thu chênh lệch giá nộp vào Ngân sách Trung ương được thực hiện ở khâu Ngoại thương giao hàng cho các Công ty cấp I. b) Nếu là hàng do các xí nghiệp quốc doanh sản xuất hoặc gia công thì thu chênh lệch giá thực hiện ở khâu sản xuất (xí nghiệp sản xuất giao cho Công ty cấp I) (Tài khoản nào có, hướng dẫn riêng). Chênh lệch giá (= Thu quốc doanh bổ sung) = giá giao mới cho Thương nghiệp cấp I - (trừ) giá giao cũ hoặc giá tạm giao cho công ty cấp I; trong đó: giá giao mới cho Thương nghiệp cấp I = giá bán lẻ mới do Nhà nước quy định - (trừ) chiết khấu thương nghiệp toàn ngành. - Đối với các loại hàng hoá vật tư thuộc bất kỳ nguồn hàng nào (nhập khẩu, xí nghiệp quốc doanh sản xuất, gia công hay thu mua hàng tiểu thủ công nghiệp, hàng tồn kho 31/5...) Thương nghiệp cấp I giao cho Thương nghiệp cấp II, và cấp II được phép bán theo giá linh hoạt bám sát thị trường và kéo giá thị trường xuống cũng tạo ra nguồn chênh lệch được. Khoản chênh lệch giá này các tổ chức thương nghiệp địa phương (tỉnh, huyện) phải tính toán chặt chẽ và nộp đầy đủ vào Ngân sách địa phương theo kế hoạch (tài khoản nào có, hướng dẫn riêng). - Đối với các mặt hàng thương nghiệp cấp II mua của xí nghiệp quốc doanh địa phương, hàng gia công hoặc mua được và khi bán ra tại địa phương sẽ tạo ra nguồn chênh lệch giá ở khâu thương nghiệp cấp II. Vì vậy, các địa phương cần đặc biệt lưu ý tính toán chặt chẽ và đầy đủ các khoản chênh lệch giá này vào kế hoạch thu và tổ chức kiểm tra đôn đốc nộp kịp thời vào Ngân sách địa phương (tài khoản nào sẽ hướng dẫn sau). - Các khoản chênh lệch giá hàng hoá, vật tư thương nghiệp cấp I bán cho thương nghiệp cấp II từ 31/5 về trước chưa được thanh toán thu nộp vào TK.783 thì ký này cũng phải được tính toán đầy đủ đưa vào kế hoạch thu tháng 6 và thống nhất nộp vào Ngân sách Trung ương. Các khoản chênh lệch giá phát sinh ở thương nghiệp cấp II từ 31/5 về trước ở các TK 784-785 và các TK khác của ngành và địa phương thì nay cũng điều chỉnh thống nhất đưa vào Ngân sách địa phương (tài khoản nào có hướng dẫn riêng). Để có cơ sở tính toán kế hoạch thu các khoản chênh lệch giá vào ngân sách, vấn đề chủ yếu là phải nắm và tính toán được kế hoạch nguồn hàng hoá vật tư thu mua theo từng loại giá cụ thể (giá chỉ đạo, giá thoả thuận); đồng thời có kế hoạch phân phối cho từng quỹ hàng hoá vật tư bán ra (bán cung cấp cho CBCNV Nhà nước và các đối tượng theo định lượng, bán theo hợp đồng kinh tế hai chiều, bán theo giá đảm bảo kinh doanh và bán theo giá cao, bám sát thị trường). Trên cơ sở đó xác định giá vốn và doanh số hàng bán ra, và tính toán kế hoạch thu chênh lệch giá ở khâu thương nghiệp cấp I và cấp II, tránh nhầm lẫn bỏ sót, tập trung được đầy đủ vào ngân sách Trung ương và địa phương - đây là nguồn tăng thu quan trọng nhất hiện nay để đảm bảo các yêu cầu chi tăng lên. Khi tính toán các khoản thu quốc doanh và chênh lệch giá (thu quốc doanh bổ sung) ở khâu sản xuất thể hiện vào trong ngân sách của từng ngành, từng địa phương, từng xí nghiệp có thể phát sinh những yêu cầu tăng chi được phản ánh trong giá thành sản phẩm các xí nghiệp quốc doanh do điều chỉnh giá thu mua nguyên liệu, giá điện, phụ cấp lương tạm thời... và từ đó sẽ giảm thu. Vì vậy giá thành sản phẩm phải được tính toán chặt chẽ trong khi chưa tính toán lại giá xí nghiệp, giá bán buôn công nghiệp, cần phải kiểm tra kỹ các yếu tố chính đáng làm tăng giá thành, tác động vào khâu nào bao nhiêu thì tính đúng bấy nhiêu, tránh mọi hiện tượng để hư hao mất mát hoặc lợi dụng lẫn vào giá thành và giảm thu không chính đáng. 3/ Do mở rộng kinh doanh thương nghiệp, ăn, uống, dịch vụ và giá dịch vụ được điều chỉnh hợp lý hơn, tạo ra khả năng tăng thu, cần phải tính toán và giao kế hoạch cụ thể cho các cơ sở thực hiện. Các đơn vị hoạt động sự nghiệp (trạm trại, cơ sở thí nghiệm khảo sát thiết kế, nghiên cứu khoa học...) chưa đưa vào hạch toán kinh tế mà còn ở các hình thức như "gán thu bù chi" hoặc "thu đủ, chi đủ" đều có khả năng tăng thu, đồng thời phải tăng chi do tác động của việc điều chỉnh giá và phụ cấp lương, các Bộ, các địa phương cần hướng dẫn và kiểm tra các đơn vị này tính toán chặt chẽ các khoản tăng thu, tăng chi chính đáng để xác định kế hoạch tăng thu cho ngân sách (thu về sự nghiệp) hoặc giảm chi của ngân sách (chi về sự nghiệp). 4/ Nguồn tăng thu về các loại thuế trong tình hình mới thực hiện các quyết định và chỉ thị của Đảng và Nhà nước cần đẩy mạnh chống đầu cơ buôn lậu, tăng cường công tác quản lý thuế chống thất thu lậu thuế kết hợp chặt chẽ với công tác quản lý thị trường và giá cả, đẩy mạnh các biện pháp thu nợ; mặt khác tổ chức thực hiện tốt các chính sách thu thuế sát sinh, thu về muối, về cá... cần tính toán lại kế hoạch thu thuế trong tháng 6 và 6 tháng cuối năm phù hợp với các khả năng tăng lên. 5/ Hàng tồn kho ở các xí nghiệp và các tổ chức kinh tế đã được kiểm kê và xác định theo giá điều chỉnh đã được Nhà nước quy định, vì vậy sẽ phát sinh khoản chênh lệch giá hàng tồn kho. Do đó, các ngành, các địa phương cần tiến hành định lại vốn lưu động định mức hợp lý cho từng cơ sở xí nghiệp, sử dụng một phần số chênh lệch giá hàng tồn kho để bổ sung cho đủ mức vốn lưu động tăng lên (phần vốn tăng thêm này một phần ngân sách cấp trực tiếp cho xí nghiệp, một phần chuyển sang Ngân hàng Nhà nước để tăng nguồn vốn cho vay trong định mức theo đúng tỷ lệ đã được quy định), phần chênh lệch giá hàng tồn kho còn lại được tính toán ghi vào kế hoạch thu ngân sách Trung ương và Ngân sách địa phương vào khoản "hoàn vốn lưu động", nếu thiếu thì ngân sách Trung ương hoặc địa phương cấp thêm. 6/ Trong tình hình mới hiện nay về các khoản thu khác của ngân sách còn có khả năng tăng lên, cấn được tính toán đầy đủ và có kế hoạch tập trung nguồn thu vào Ngân sách Nhà nước (ở Trung ương và địa phương). II. Tính toán chặt chẽ các khoản chi ngân sách, bảo đảm phản ánh đầy đủ các khoản chi tăng lên do tác động của việc điều chỉnh giá và phụ cấp lương với tinh thần hết sức tiết kiệm chi : Đi liền với khả năng tăng nguồn thu, do tác động trực tiếp của việc điều chỉnh giá và phụ cấp lương, nhiều khoản chi của Ngân sách Nhà nước cũng tăng lên. Các khoản tăng chi lớn nhất là tăng chi về tiền lương và tăng chi về bù lỗ những mặt hàng cung cấp theo định lượng và theo giá chỉ đạo của Nhà nước cho cán bộ, công nhân, nhân viên Nhà nước và các đối tượng được hưởng trợ cấp của Nhà nước. Những khoản tăng chi nói trên phản ánh một phần trong giá thành của nhiều sản phẩm tăng lên làm giảm thu ngân sách hoặc ngân sách phải bù lỗ, một phần khá được phản ánh vào trong kinh phí của các ngành tăng lên, một phần quan trọng sẽ phản ánh trong khoản tiền bù lỗ các mặt hàng cung cấp theo định lượng. Việc tính toán chặt chẽ các khoản chi bảo đảm phản ánh đầy đủ các yêu cầu chi và hết sữ tiết kiệm chi có một ý nghĩa rất lớn để góp phần bảo đảm chi ngân sách được thăng bằng một cách tích cực: 1/ Chi về bù lỗ các mặt hàng cung cấp theo định lượng và theo giá chỉ đạo cho cán bộ công nhân viên và các đối tượng theo quy định của Chính phủ : Việc quản lý và thực hiện bù lỗ từ trước đến nay đều thực hiện qua cấp I (nội thương và lương thực), nay theo quyết định của Chính phủ thì việc bù lỗ các mặt hàng cung cấp theo định lượng được thực hiện ở cấp II, theo thực tế đã bán lẻ các mặt hàng trong diện cung cấp cho cán bộ, nhân viên Nhà nước và các đối tượng theo quy định của Chính phủ trong từng tỉnh, thành phố và đặc khu. Đây là một thay đổi lớn, nhằm bảo đảm tốt việc cung cấp hiện vật cho các đối tượng đúng chính sách và được kiểm tra chặt chẽ. Để thực hiện tốt việc bảo đảm cung cấp hiện vật và có kế hoạch bảo đảm bù lỗ kịp thời và sát với yêu cầu, cần thực hiện một số việc cụ thể sau đây: a) Nắm được đầy đủ các đối tượng trong diện được cung cấp hiện vật theo định lượng ở địa phương, bao gồm cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước (thuộc biên chế trung ương và biên chế địa phương) và người ăn theo, và các đối tượng khác theo quy định. Đối với những yêu cầu cung cấp hiện vật của các đơn vị, cơ quan không nằm trong diện đã quy định như: lương thực thực phẩm cho các bệnh viện, bệnh xá để bồi dưỡng độc hại, cho các khách sạn nay mua theo giá bảo đảm kinh doanh, thì số chi tăng thêm về khoản này sẽ tính vào kinh phí hoặc trong giá thành sản phẩm, phí lưu thông của ngành, của đơn vị. Cần kiểm tra và tính toán chặt chẽ định mức và giá cả. Để nắm được đối tượng và khối lượng hiện vật phải cung cấp ở địa phương, Uỷ ban Nhân dân các tỉnh và thành phố cần thông tri cho các cơ quan, các đơn vị kê khai cụ thể số người và tiêu chuẩn được cung cấp theo quy định và người ăn theo, giao trách nhiệm cho các cơ quan có liên quan như: lương thực, nội thương, lao động, tài chính.... kiểm tra tính chính xác của tờ khai, tổng hợp số đối tượng, số lượng các mặt hàng phải bảo đảm cung cấp theo định lượng, theo giá chỉ đạo, và khối lượng phải bán theo giá bảo đảm kinh doanh. Riêng các đơn vị quân đội và công an vũ trang, theo quy định hiện hành thì quản lý thống nhất, toàn ngành, không nằm trong diện trực tiếp cung cấp và bù lỗ ở địa phương. Trường hợp phải tổ chức cung cấp trực tiếp ở địa phương thì hậu cần của quân đội và công an vũ trang bàn cụ thể với các ngành có liên quan với địa phương. Các Bộ và các ngành ở Trung ương cần thông báo cho Bộ Tài chính các ngành Nội thương, Lương thực biết số người thuộc biên chế Trung ương của Bộ, được cung cấp hiện vật theo định lượng ở các địa phương, để Bộ Tài chính có
căn cứ tính toán và bố trí vốn bù lỗ. b) Tính toán giá vốn và giá bán cung cấp theo định lượng để tìm ra số lỗ phải bù cho từng loại mặt hàng, trong tháng 6, 6 tháng cuối năm và quý III. Trong khối lượng hàng hoá đưa vào cung cấp ở các tỉnh, thành phố có phần hoặc loại hàng do cấp I đưa về (kèm theo giá vốn), có phần hoặc loại hàng thu mua ở địa phương cần phải
căn cứ vào khối lượng và giá từ từng nguồn hàng để xác định giá vốn bình quân một đơn vị hàng đưa vào cung cấp; trên cơ sở đó mà tính kế hoạch bù lỗ (đã có hướng dẫn). Trường hợp có những yếu tố về giá chưa thể xác định được ở địa phương thì hỏi cơ quan có trách nhiệm ở Trung ương, hoặc tạm tính theo một giá ước lượng, để tính kế hoạch. Khi có số liệu đầy đủ hơn sẽ điều chỉnh lại. c) Trong việc bảo đảm cung cấp hiện vật cho cán bộ, nhân viên và các đối tượng khác, có trường hợp cán bộ, nhân viên tự túc được một số mặt hàng, Nhà nước không cung cấp bằng hiện vật, mà bù bằng tiền (theo quy định). Số tiền được bù này cũng coi như bù lỗ, nằm trong quỹ bù lỗ, bao gồm số tiền bù cho cán bộ, công nhân viên và người ăn theo thuộc diện được cung cấp hiện vật. 2/ Chi về Hành chính sự nghiệp : Do việc thực hiện chính sách trợ cấp lương và điều chỉnh giá bán lẻ hàng hoá, chi về sự nghiệp và hành chính của các ngành, các cơ quan sẽ tăng lên. Các Bộ, các ngành và Uỷ ban Nhân dân các địa phương cần tính toán cụ thể và chặt chẽ kế hoạch chi điều chỉnh trong năm 81. - Về lương cần tính toán và quản lý chặt chẽ biên chế và căn cứ chính sách lương để tính mức phải điều chỉnh trong 7 tháng tới. - Về bảo đảm vật chất cần thiết - phải tính toán cụ thể cho từng loại, trước đây mua theo giá chỉ đạo nay phải mua theo giá mới (giá bảo đảm kinh doanh) để tính kinh phí tăng lên. Một mặt khác phải hết sức hạn chế mua sắm đồ dùng trong cơ quan, đơn vị, giảm chi cho ngân sách. 3/ Chi về xây dựng cơ bản : Các yếu tố được tính tăng trong dự toán xây dựng là khoản phụ cấp lương tạm thời nhưng phải tính toán trên cơ sở sử dụng chặt chẽ lao động và tăng năng suất lao động; có khoản tăng chi liên quan đến việc điều chỉnh giá cả như đền bù hoa màu, tài sản trong chi kiến thiết cơ bản khác của xây dựng, chi tăng dự toán về lợi nhuận định mức của xí nghiệp xây lắp (tăng từ 2,5% lên 6%). Đi đôi với các yếu tố tăng chi về xây dựng cơ bản, trong tình hình vật tư và tài chính rất khó khăn, cần sắp xếp lại các công trình xây dựng cơ bản cho phù hợp với khả năng vật tư, tiền vốn, tậpt rung cao độ cho các công trình trọng điểm, các công trình thật cấp thiết, sớm đưa vào sản xuất sử dụng; mặt khác phải hạn chế và giảm số chi về nguyên vật liệu mua ngoài, đình chỉ việc thuê nhân công ngoài nhằm giảm tổng mức vốn đầu tư xây dựng cơ bản xuống.