THÔNG TƯ Về việc điều chỉnh suất miễn thu Theo chính sách thuế công thương nghiệp hiện hành, để bảo đảm mức thu nhập cần thiết của cá nhân và tập thể kinh doanh công thương nghiệp, khi tính lợi tức chịu thuế, mỗi xã viên có thực tế tham gia sản xuất trong kỳ kinh doanh được trừ 1 suất miễn thu (không tính thuế). Pháp lệnh ngày 23 tháng 6 năm 1980 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã giao cho Chính phủ quy định các suất miễn thu theo nguyên tắc:"suất miễn thu của các ngành sản xuất tương đương với mức bình quân lương chính của công nhân xí nghiệp quốc doanh cùng ngành ở địa phương, suất miễn thu của các ngành phục vụ, ăn uống thấp hơn ngành sản xuất 10%; của ngành thương nghiệp thấp hơn ngành sản xuất 20%". Thi hành Pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chỉ thị của Chính phủ và theo sự hướng dẫn của Bộ Tài chính, từ giữa năm 1980, UBND các tỉnh, thành phố đã quy định các suất miễn thu để áp dụng cho từng ngành, nghề và từng địa phương. Đầu tháng 6 năm 1981, đi liền với việc điều chỉnh giá; quyết định 219/CP của Chính phủ quy định khoản phụ cấp lương tạm thời bằng 95%, 100%, 116% tiền lương cơ bản và những biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm đời sống của công nhân viên chức trong khu vực Nhà nước. Trước những thay đổi về chính sách giá cả, tiền lương, Bộ Tài chính đang soát lại một cách toàn diện chính sách thuế công thương nghiệp để trình Chính phủ
xét trước khi trình Quốc hội quyết định chính sách thuế công thương nghiệp phù hợp với tình hình mới. Trước mắt, trong phạm vi chính sách cho phép và để phát huy tác dụng của chính sách thuế khuyến khích hoạt động công thương nghiệp phát triển đúng hướng, tăng cường sự quản lý của Nhà nước, Bộ Tài chính hướng dẫn tạm thời việc vận dụng nguyên tắc tính suất miễn thu thuế lợi tức doanh nghiệp như sau: 1. Để bảo đảm suất miễn thu của các ngành sản xuất tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp tương tương với mức lương chính bình quân của công nhân quốc doanh cùng ngành ở địa phương; UBND tỉnh và thành phố
căn cứ vào mức lương công nhân trong khu vực quốc doanh công với phụ cấp tạm thời theo quyết định 219 CP của Chính phủ để điều chỉnh suất miễn thu cho lao động tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp cùng ngành; và căn cứ vào suất miễn thu được điều chỉnh cho các ngành khác theo nguyên tắc: suất miễn thu của ngành phục vụ ăn uống thấp hơn ngành sản xuất 10%, của ngành thương nghiệp thấp hơn 20%. Suất miễn thu mới được áp dụng từ 1/6/1981. Khi thanh toán thuế lợi tức năm 1981, 5 tháng đầu năm được tính theo suất miễn thu cũ và 7 tháng cuối năm được tính theo suất miễn thu được điều chỉnh. Riêng đối với các hộ nộp thuế theo chế độ: nộp thuế từng tháng, không thanh toán cuối năm, thì suất miễn thu được áp dụng để tính thuế cho từng tháng. 2. Ngoài suất miễn thu, nguồn thu nhập của người kinh doanh công thương nghiệp còn dựa vào lợi tức còn lại sau khi nộp thuế. Vì vậy, theo chính sách hiện hành, suất miễn thu chỉ được tính tương đương với lương chính của công nhân quốc doanh cùng ngành. Tuy nhiên, trong việc chỉ đạo lập bộ thuế, cần nắm tình hình sản xuất kinh doanh, thu nhập và đời sống của từng cơ sở sản xuất kinh doanh do tác động của tình hình giá cả mới để vận dụng đúng chính sách miễn giảm cho những cá nhân hoặc đơn vị sản xuất kinh doanh đúng hướng nhưng có nhiều khó khăn. 3. Đi liền với việc tính lãi suất miễn thu, cần phải chỉ đạo chặt chẽ việc tính lại doanh thu của các hộ kinh doanh công thương nghiệp và mức thuế phải thu theo biến động của giá cả, thị trường, kiên quyết chống thất thu và phát huy vai trò của công tác thuế tham gia quản lý thị trường, chống nâng giá, phá giá. Nhìn chung, việc chỉ đạo và quản lý thuế công thương nghiệp có được tăng cường so với trước, nhưng thất thu về hộ và thất thu về doanh thu còn nhiều. Vì vậy, đi đôi với việc điều chỉnh suất miễn thu phù hợp với tình hình mới, xét miễn giảm hợp lý đối với những hộ kinh doanh đúng hướng và có khó khăn, phải ra sức tăng cướng chống thất thu và quản lý thị trường, phấn đấu hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thu thuế năm 1981.