THÔNG TƯ Hướng dẫn thi hành Chỉ thị số 271-CT ngày 14-10-1982 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc thanh toán hàng nhập thiết bị toàn bộ và khối lượng xây dựng cơ bản. Thi hành Chỉ thị số 271-CT ngày 14/10/1982 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và
căn cứ vào tình hình thực tế trong công tác tiếp nhận, sử dụng và thanh toán tiền hàng thiết bị toàn bộ nhập khẩu trong thời gian qua của các Bộ, các ngành và các địa phương, trong thông tư này Bộ Tài chính hướng dẫn một số điểm về việc giải quyết vốn thanh toán các khoản công nợ thuộc vốn xây dựng cơ bản của các Bộ, các ngành đối với các công trình nhập khẩu thiết bị toàn bộ (bao gồm thiết bị công nghệ, thiết bị thi công, nguyên vật liệu và phụ tùng thay thế nhập khẩu theo thiết bị toàn bộ) bằng nguồn vốn vay nợ, viện trợ và mậu dịch của các nước xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Việc giải quyết vốn thanh toán khối lượng xây lắp các công trình đã hoàn thành của các Bộ, các ngành và các địa phương theo Chỉ thị 271-CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Liên Bộ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước Việt nam sẽ có thông tư hướng dẫn riêng. I- TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC BỘ, CÁC NGÀNH, CÁC BAN QUẢN LÝ CÔNG TRÌNH VÀ CÁC ĐƠN VỊ TRỰC TIẾP NHẬN CÁC LOẠI THIẾT BỊ, VẬT TƯ THUỘC CÁC CÔNG TRÌNH THIẾT BỊ TOÀN BỘ TRONG VIỆC THANH TOÁN TIỀN HÀNG VỚI CƠ QUAN NGOẠI THƯƠNG VÀ BAN TIẾP NHẬN VIỆN TRỢ TRUNG ƯƠNG A- Các Ban quản lý công trình và các đơn vị được Bộ chủ quản giao nhiệm vụ nhận hàng thiết bị toàn bộ có trách nhiệm: 1/ Tiến hành đối chiếu xác nhận công nợ tiền hàng nhập khẩu thiết bị toàn bộ với Tổng Công ty nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật (Bộ Ngoại thương) và Ban Tiếp nhận viện trợ Trung ương, về các khoản nợ chưa được thanh toán. Trong biên bản xác nhận công nợ cần ghi rõ số tiền các loại thiết bị đã được đơn vị chấp nhận thanh toán và số tiền từ chối không thanh toán (do hàng giao sai chủ, đòi sai giá, do các ga, cảng giao thiếu đã có biên bản xác nhận). 2/
Căn cứ vào biên bản đối chiếu xác nhận công nợ, tiến hành phân định số nợ phải thanh toán theo nguồn vốn đầu tư công trình thuộc vốn Ngân sách Nhà nước cấp phát hay công trình thuộc vốn tín dụng Ngân hàng Nhà nước cho vay và theo các đối tượng công trình như sau: - Thiết bị, vật tư thuộc công trình đình hoãn nếu chưa bố trí vốn đầu tư xây dựng trong kế hoạch 5 năm (1981 - 1985). - Thiết bị, vật tư thuộc công trình đã xây dựng xong đưa vào sản xuất, sử dụng nhưng chưa được Ngân sách Nhà nước cấp phát hoặc Ngân hàng Nhà nước cho vay vốn để thanh toán. - Thiết bị, vật tư thuộc công trình đang xây dựng và có kế hoạch vốn đầu tư XDCB năm 1982 nhưng bố trí vốn thanh toán chưa đủ. - Thiết bị, vật tư thuộc công trình đang còn tiếp tục xây dựng trong năm 1982 nhưng chưa được bố trí chỉ tiêu vốn đầu tư. - Thiết bị, vật tư thuộc các công trình có kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản trong năm 1982 nhưng hàng về vượt kế hoạch để chuẩn bị cho năm sau. - Công trình chuẩn bị đầu tư: bao gồm các Chi phí về chuyên gia, khảo sát thiết kế, lập luận chứng kinh tế - kỹ thuật v.v. . . - Máy móc thiết bị thi công đi theo công trình nhập thiết bị toàn bộ: số đã giao cho bên B quản lý và sử dụng (đã thanh toán hoặc chưa thanh toán) và số do ban quản lý công trình hoặc đơn vị nhận hàng quản lý (đã thanh toán hoặc chưa thanh toán). 3/ Tiến hành kiểm tra, đối chiếu giữa số công nợ phải thanh toán với số thiết bị, vật tư hiện có tại Ban quản lý công trình hoặc đơn vị nhận hàng. Xác định số bị mất mát, hư hỏng hoặc đã chuyển dịch đi nơi khác (nêu rõ chuyển dịch theo quyết định nào? theo lệnh của cấp nào? chuyển giao cho đơn vị nào? . . .). Cần có biện pháp xử lý kịp thời và nghiêm khắc đối với các trường hợp vô trách nhiệm để xảy ra hư hỏng, mất mát và các trường hợp ăn cắp hoặc có hành động lợi dụng sơ hở trong quản lý để xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa trong khi tiếp nhận, vận chuyển và bảo quản chấn chỉnh công tác. Tổ chức quản lý chặt chẽ các loại thiết bị, vật tư theo đúng chế độ của Nhà nước đã quy định. 4/ Các tài liệu trên đây Ban quản lý công trình hoặc đơn vị nhận hàng thiết bị toàn bộ lập thành 7 bản, lưu 1 bản và 6 bản gửi cho các cơ quan đơn vị sau đây: - Đơn vị giao hàng (Tổng Công ty nhập khẩu thiết bị toàn bộ hoặc Ban tiếp nhận viện trợ) 1 bản để làm căn cứ lập nhờ thu đòi tiền hàng. - Gửi về Bộ chủ quản 5 bản: Bộ chủ quản giữ 1 bản, gửi cho Bộ Tài chính 2 bản, Ngân hàng Nhà nước 1 bản và Ngân hàng đầu tư và xây dựng 1 bản kèm với bảng tổng hợp kế hoạch để ghi vốn thanh toán thiết bị, vật tư của các công trình thuộc Bộ, Tổng cục quản lý để các cơ quan này có cơ sở căn cứ xem xét giải quyết cấp phát hoặc cho vay vốn để thanh toán tiền hàng với Tổng Công ty nhập khẩu thiết bị toàn bộ (Bộ Ngoại thương) hoặc Ban tiếp nhận viện trợ TW. B. Các Bộ, các ngành chủ quản có trách nhiệm: 1/ Hướng dẫn và đôn đốc các đơn vị trực thuộc Bộ và ngành mình quản lý được khẩn trương triển khai thực hiện đầy đủ và kịp thời những điều quy định trong chỉ thị số 271-CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và những việc cụ thể cần làm theo hướng dẫn trong thông tư này của Bộ Tài chính. 2/
Sau khi nhận được biên bản xác nhận công nợ, bảng phân định nguồn vốn và đối tượng, cá công trình cũng như các biên bản kiểm tra đối chiếu tài sản của các Ban quản lý công trình và các đơn vị nhận hàng thiết bị toàn bộ thuộc Bộ, ngành mình gửi đến (quy định ở điểm 1, 2 mục A), lập bảng tổng hợp để đề nghị Ngân sách Nhà nước cấp phát hoặc Ngân hàng Nhà nước cho vay vốn thanh toán các khoản công nợ của Ban quản lý công trình và các đơn vị nhận hàng thiết bị toàn bộ thuộc Bộ, ngành mình quản lý. Bảng tổng hợp đề nghị vốn thanh toán của Bộ chủ quản cũng phải phân tích đầy đủ và cụ thể chi tiết như quy định đối với các Ban quản lý công trình hoặc các đơn vị nhận hàng và gửi đến Bộ Tài chính 2 bản (Vụ Ngân sách Nhà nước và Vụ quản lý tài vụ chuyên ngành), Ngân hàng Nhà nước (Vụ kinh tế kế hoạch) 1 bản, Ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt nam 1 bản có kèm theo các biên bản xác nhận công nợ và bảng phân định nguồn vốn, đối tượng công trình của các Ban quản lý công trình hoặc đơn vị nhận hàng). Bộ Tài chính (Vụ Ngân sách Nhà nước và các Vụ tài vụ chuyên ngành), sau khi nhận được bản kế hoạch đề nghị vốn thanh toán của các Bộ, các ngành, phải kiểm tra xem xét và chuẩn bị vốn Ngân sách để cấp phát thanh toán cho các Bộ, các ngành. Việc tổng hợp kế hoạch xin vốn thanh toán của các Bộ chủ quản có thể làm 2 hoặc 3 đợt, khi được đơn vị nào thì tổng hợp đề nghị vốn thanh toán ngay cho các đơn vị đó, không nhất thiết chờ đợi có đầu tư hết các đơn vị mới tổng hợp đề nghị vốn thanh toán, có làm như vậy mới bảo đảm thực hiện đúng thời gian tổng hợp đề nghị của chỉ thị 271-CT quy định. 3/
Sau khi đã được Bộ Tài chính cấp phát vốn hoặc Ngân hàng Nhà nước cho vay vốn thanh toán các khoản công nợ về thiết bị, vật tư nhập khẩu, các Bộ chủ quản làm các thủ tục cần thiết để phân bổ và giao cho các đơn vị trực thuộc quản lý các loại vốn về XDCB, dự trữ thiết bị, chuẩn bị thiết bị . . . (Cả về giá trị và hiện vật) theo đúng chế độ của Nhà nước quy định. 4/ Qua việc giải quyết thanh toán công nợ tiền hàng nhập khẩu thiết bị toàn bộ lần này, đề nghị các Bộ, các ngành cần rà soát lại việc thực hiện các hiệp định, hợp đồng nhập khẩu các công trình thiết bị toàn bộ từ trước đến nay, để nắm chắc được kế hoạch và khả năng thực hiện khối lượng thiết bị, vật tư thuộc công trình thiết bị toàn bộ về trong năm 1983. Đối với loại thiết bị, vật tư (kể cả số đã về và đã được thanh toán từ các năm trước và trong năm 1982 cũng như sẽ về trong năm 1983) đưa vào lắp đặt trong năm 1983 thì các Bộ cần tính toán kỹ để đề nghị ủy ban kế hoạch Nhà nước bố trí vào kế hoạch đầu tư XDCB năm 1983 và nhất thiết phải được ủy ban kế hoạch Nhà nước ghi vào kế hoạch XDCB năm 1983 mới có vốn để thanh toán. Những loại thiết bị, vật tư thuộc các công trình đình, hoãn xây dựng trong kế hoạch 5 năm (1981 - 1985) về trong năm 1983, hoặc thiết bị về trong năm 1983 của các công trình chuẩn bị cho năm 1984, thì các Bộ chủ quản phải lập kế hoạch tài vụ XDCB với Bộ Tài chính để có kế hoạch về tài vụ XDCB nguồn vốn của Ngân sách Nhà nước cấp phát thanh toán hàng về năm 1983, đảm bảo không để một lô hàng nhập nào về nước trong năm 1983 mà không có vốn thanh toán. II- NGUYÊN TẮC VÀ THỦ TỤC THANH TOÁN 1/Về nguyên tắc thanh toán: Tất cả các khoản công nợ hàng nhập khẩu thiết bị toàn bộ của các đơn vị thuộc các Bộ, các ngành đã có đầy đủ các cơ sở và căn cứ quy định trong thông tư này (kể cả các công trình thuộc vốn Ngân sách cấp phát và thuộc vốn tín dụng Ngân hàng Nhà nước cho vay), sau khi đã trao đổi nhất trí với Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính sẽ giải quyết vốn thanh toán tập trung tại Trung ương, bằng hình thức ghi thu và ghi chi. Sau đó Bộ chủ quản cùng với Bộ Tài chính (Vụ tài vụ chuyên ngành), Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt nam, làm các thủ tục cần thiết thích hợp giao vốn xuống cho các cơ sở thuộc ngành mình để theo dõi, quản lý. 2/ Tổng Công ty thiết bị toàn bộ (Bộ Ngoại thương) hoặc Ban tiếp nhận viện trợ, căn cứ vào các biên bản đối chiếu xác nhận công nợ và bảng phân tích nguồn vốn, đối tượng công trình của các đơn vị chủ hàng lập (bộ chứng từ thanh toán): hoá đơn, giấy nhờ thu, bảng kê kiểm giấy nộp tiền hàng vay nợ, viện trợ . . . đòi tiền hàng đối với từng Bộ chủ quản (qua tài khoản 820 tại Ngân hàng đầu tư và xây dựng). 3/ Ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt nam, sau khi nhận được nhờ thu do Ngân hàng Ngoại thương gửi đến, tiến hành đối chiếu với bảng phân loại nguồn vốn và đối tượng các công trình của các Bộ, các ngành chủ quản, lập bảng kê giấy nhờ thu theo từng loại vốn, từng đối tượng công trình và chuyển đến Bộ Tài chính (Vụ Ngân sách Nhà nước) để đề nghị Ngân sách chuyển các loại vốn thích hợp sang Ngân hàng đầu tư và xây dựng để cấp phát hoặc cho vay thanh toán. 4/ Bộ Tài chính (Vụ Ngân sách Nhà nước) sau khi nhận được các bảng kê giấy nhờ thu của Ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt nam gửi đến, làm các thủ tục sau đây: a. Đối với các công trình thuộc vốn Ngân sách Nhà nước cấp phát: - Phát hành lệnh chi chuyển vốn XDCB ngoài nước, hoặc vốn dự trữ thiết bị (đối với công trình đình hoãn), vốn chuẩn bị thiết bị (đối với loại thiết bị về vượt kế hoạch năm nay, sang năm 1984 mới lắp đặt), vốn chuẩn bị đầu tư (các chi phí về chuyên gia, khảo sát thiết kế, . . .) để Ngân hàng đầu tư và xây dựng cấp phát cho các Bộ chủ quản thanh toán với Ngoại thương hoặc Ban Tiếp nhận viện trợ theo bảng kê giấy nhờ thu đề nghị vốn thanh toán. - Phát hành lệnh thanh toán: thay Ngân hàng đầu tư và xây dựng và thay Bộ chủ quản trả tiền hàng nhập khẩu thiết bị toàn bộ cho Tổng Công ty thiết bị toàn bộ hoặc Ban Tiếp nhận viện trợ. - Đồng thời phát hành lệnh thu Ngân sách Nhà nước, thay Tổng Công ty thiết bị toàn bộ hoặc Ban Tiếp nhận viện trợ nộp tiền hàng vay nợ, viện trợ vào Ngân sách Nhà nước. b. Đối với các công trình thuộc vốn tín dụng Ngân hàng Nhà nước cho vay: - Phát hành lệnh chi Ngân sách chuyển vốn cho Ngân hàng đầu tư và xây dựng để cho các đơn vị chủ quản vay các loại vốn thích hợp như: vốn XDCB, vốn dự trữ thiết bị, vốn chuẩn bị đầu tư . . . để thanh toán tiền hàng nhập khẩu thiết bị toàn bộ cho Tổng Công ty nhập khẩu thiết bị toàn bộ (Bộ Ngoại thương) hoặc Ban Tiếp nhận viện trợ. - Phát hành lệnh thanh toán: thay Ngân hàng đầu tư và xây dựng và thay các Bộ chủ quản trả tiền hàng nhập khẩu cho Tổng Công ty nhập khẩu TBTB, hoặc Ban Tiếp nhận viện trợ. - Phát hành lệnh thu Ngân sách Nhà nước: thay Tổng Công ty thiết bị toàn bộ (Bộ Ngoại thương) hoặc Ban Tiếp nhận viện trợ nộp tiền hàng vay nợ, viện trợ vào Ngân sách Nhà nước. Tất cả các lệnh chi, lệnh thanh toán và lệnh thu Ngân sách trên đây, đều được chuyển đến Ngân hàng đầu tư và xây dựng, sau đó Ngân hàng đầu tư chuyển đến cho Ngân hàng Nhà nước Việt nam (Vụ kế toán và quản lý quỹ Ngân sách Nhà nước) sẽ hành tự thu, chi vào quỹ Ngân sách Trung ương và báo nợ, báo có cho các đơn vị có liên quan. IV- VỀ THỜI HẠN CẤP PHÁT HOẶC CHO VAY VỐN THANH TOÁN CÔNG NỢ HÀNG NHẬP KHẨU THIẾT BỊ TOÀN BỘ THEO CHỈ THỊ 271-CT CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG Chỉ thị số 271-CT ngày 14/10/82 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quy định: Các Bộ, các ngành cùng với Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước tiến hành giải quyết cơ bản xong các khoản công nợ hàng nhập khẩu thiết bị toàn bộ này trong tháng 11/1982 và kết thúc vào ngày 31/12/1982, sau đó Bộ Tài chính tổng kết báo cáo lên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về kết quả thực hiện Chỉ thị số 271-CT. Nhưng trong thời gian qua còn có nhiều vướng măc về thủ tục thanh toán giữa các Bộ, các ngành có liên quan. Do vậy, thời hạn kết thúc thanh toán công nợ đúng như chỉ thị của Hội đồng Bộ trưởng quy định khó có thể thực hiện kịp thời được nhưng cần phải cố gắng giải quyết khẩn trương để kết thúc trước ngày 31/01/1983. Từ nay đến 31/12/1982 đề nghị các Bộ, các ngành tập trung tiến hành khẩn trương các thủ tục cần thiết để thanh toán dứt điểm cho xong đối với các công trình có khoản nợ lớn; còn đối với các đơn vị có số công nợ ít hoặc ở xa, nếu chưa làm kịp các thủ tục trong tháng 12/82 thì có thể để sang đầu tháng 1/1983 thanh toán tiếp. Từ sau ngày 31/1/1983 trở đi Bộ Tài chính không chịu trách nhiệm giải quyết vốn thanh toán công nợ cho các Bộ, các ngành theo tinh thần chỉ thị 271 - CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quy định. Nhận được thông tư này, đề nghị các Bộ, các ngành khẩn trương triển khai tiến hành các công việc cần làm theo tình thần chỉ thị của Hội đồng Bộ trưởng và hướng dẫn trên đây để việc thanh toán công nợ hàng nhập thiết bị toàn bộ được kết thúc sớm. Trong quá trình thực hiện nếu có gì vướng mắc, yêu cầu cử cán bộ có thẩm quyền đến bàn bạc với Bộ Tài chính (Vụ Ngân sách Nhà nước và các Vụ tài vụ chuyên ngành) tìm biện pháp giải quyết kịp thời.