THÔNG TƯ Hướng dẫn thi hành quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về chế độ khuyến khích vật chất đối với ngành thuế công thương nghiệp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ra Quyết định số 365/CT ngày 22/12/1982 về chế độ khuyến khích vật chất đối với ngành thuế công thương nghiệp. Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành quyết định nói trên như sau: I- MỤC ĐÍCH YÊU CẦU, PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG CHẾ ĐỘ KHUYẾN KHÍCH VẬT CHẤT ĐỐI VỚI NGÀNH THUẾ CÔNG THƯƠNG NGHIỆP 1/ Mục đích yêu cầu: Chế độ khuyến khích vật chất đối với ngành thuế công thương nghiệp nhằm: a. Động viên, khuyến khích án bộ, nhân viên và các đơn vị trong ngành thuế công thương nghiệp phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch thu thuế công thương nghiệp đúng chính sách và pháp luật của Nhà nước. b. Thúc đẩy cán bộ, nhân viên thuế giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống các hành vi tiêu cực trong công tác thuế; c. Đưa công tác quản lý thu thuế công thương nghiệp trong khu vực kinh tế tập thể, cá thể và tư nhân đi vào nền nếp, phát huy tác dụng của chính sách thuế đối với sản xuất, lưu thông và cải tạo XHCN công thương nghiệp cá thể và tư nhân. 2/ Phạm vi áp dụng: Tất cả cá nhân và đơn vị thuộc hệ thống tổ chức ngành thuế công thương nghiệp từ Trung ương đến cơ sở gồm: Cục thuế công thương nghiệp, Chi cục thuế công thương nghiệp các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương, Phòng thuế công thương nghiệp các quận, huyện, thị xã có chỉ tiêu kế hoạch thu thuế công thương nghiệp được cấp trên
xét duyệt và chính thức giao nhiệm vụ; có đăng ký phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch thu với cơ quan tài chính, thuế cấp trên, thì được áp dụng chế độ khuyến khích vật chất quy định tại Quyết định số 356/CT ngày 22/12/1982 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. 3/ Đối tượng được
xét thưởng: Đối tượng được xét thưởng bao gồm các cán bộ, nhân viên và các đơn vị trong ngành thuế công thương nghiệp có thành tích công tác theo các điều kiện dùng làm tiêu chuẩn xét thưởng cho từng người, từng đơn vị, cụ thể như sau: a. Các đơn vị trong ngành thuế công thương nghiệp các cấp, bao gồm: Cục thuế công thương nghiệp; Chi cục thuế công thương nghiệp tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương; phòng thuế công thương nghiệp các quận, huyện, thị xã; các trạm, tổ, đội thu thuế (dưới đây gọi tắt là các đơn vị); b. Cán bộ, nhân viên làm nhiệm vụ trực tiếp kiểm soát, thu thuế công thương nghiệp ở các trạm, tổ, đội thu thuế thuộc các phòng thuế công thương nghiệp quận, huyện, thị xã; c. Cán bộ quản lý, nghiên cứu, kiểm tra, nhân viên nghiệp vụ, hành chính, kế toán, thống kê, tài vụ, quản trị . . . trong các đơn vị thuộc hệ thống tổ chức ngành thuế công thương nghiệp ở các cấp (Cục thuế, Chi cục thuế, Phòng thuế). II- ĐIỀU KIỆN XÉT THƯỞNG, MỨC THƯỞNG VÀ THỂ THỨC XÉT THƯỞNG 1/ Điều kiện xét thưởng: Các đơn vị và cá nhân cán bộ, nhân viên ngành thuế công thương nghiệp phải đạt được những điều kiện dưới đây mới được xét thưởng: a. Các đơn vị chỉ được xét thưởng để trích lập ba quỹ khi có kế hoạch thu nộp thuế được cơ quan có thẩm quyền giao (quy định ở điểm d phần dưới); có đăng ký phấn đầu hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch thu nộp thuế; đồng thời phải bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh các chính sách, chế độ thuế và các biện pháp quản lý cơ bản đã quy định; giáo dục và kiểm tra thường xuyên đối với cán bộ thuế, xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm chính sách, chế độ, không để xảy ra trong đơn vị có những vụ sai phạm về chính sách, chế độ và đạo đức phẩm chất. b. Cán bộ, nhân viên làm nhiệm vụ trực tiếp kiểm soát, thu thuế công thương nghiệp ở cơ sở phải chính thức đăng ký kế hoạch thu nộp thuế từng quý (có chia ra tháng), được cấp có thẩm quyền duyệt; phải hoàn thành kế hoạch thu thuế từ 10% trở lên so với kế hoạch thu được duyệt. Không phạm các sai lầm ức hiếp quần chúng, làm trái chính sách, tham ô, nhận hối lộ, bao che cho các hành vi trốn thuế, lậu thuế . . . Trong việc xét thưởng cho từng cá nhân cán bộ, nhân viên làm nhiệm vụ trực tiếp kiểm soát, thu thuế công thương nghiệp, điều kiện xét thưởng không phụ thuộc vào kết quả hoàn thành kế hoạch thu nộp thuế chung của đơn vị, mà phụ thuộc vào kết quả công tác quản lý thu nộp thuế của từng cá nhân đã đạt được theo chỉ tiêu kế hoạch thu được duyệt và chức trách nhiệm vụ được giao. c. Cán bộ làm công tác quản lý, nghiên cứu, kiểm tra, nhân viên nghiệp vụ hành chính, kế toán, thống kê, tài vụ, quản trị . . . ở Cục thuế, Chi cục thuế, các Phòng thuế công thương nghiệp chỉ được xét thưởng nếu đơn vị công nhận hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch thu nộp thuế do cấp có thẩm quyền giao. Việc xét thưởng cho từng cá nhân cán bộ, nhân viên thuế phải căn cứ vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ của từng người trong phạm vi chức trách nhiệm vụ được giao; vào việc thực hiện đúng các chính sách, chế độ và pháp luật của Nhà nước; vào tư cách đạo đức và phần đóng góp cụ thể của mỗi người vào thành tích chung của đơn vị; d. Kế hoạch thu thuế công thương nghiệp được công nhận hoàn thành, phải là: - Đối với Cục thuế CTN: kế hoạch do Bộ Tài chính giao theo mức thu ghi trong Ngân sách Nhà nước hàng năm được Quốc hội phê chuẩn. - Đối với Chi cục thuế CTN các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương: kế hoạch do Cục thuế CTN giao theo mức thu được ghi vào Ngân sách Nhà nước hàng năm của tỉnh, thành phố, đặc khu. - Đối với phòng thuế CTN các quận, huyện, thị xã: kế hoạch do Chi cục thuế CTN tỉnh, thành phố, đặc khu giao theo mức thu được ghi vào Ngân sách Nhà nước hàng năm của quận, huyện, thị xã. - Đối với các trạm, tổ, đội thu thuế và cá nhân cán bộ thuế: kế hoạch do phòng thuế CTN quận, huyện, thị xã giao và tổng hợp kế hoạch thuế của các trạm, tổ, đội và cá nhân cán bộ nhân viên thuế không được thấp hơn kế hoạch thuế của phòng thuế do Chi cục giao được ghi vào Ngân sách Nhà nước hàng năm của quận, huyện, thị xã. - Kế hoạch thu thuế CTN cả năm của từng đơn vị và cá nhân phải được phân ra kế hoạch thu của 4 quý để hàng quý có căn cứ kiểm điểm kết quả thực hiện kế hoạch và xét trích thưởng theo quy định nói trên. 2/ Mức thưởng: a. Việc xét thưởng cho các đơn vị tiến hành một năm một lần theo mức thưởng như sau: - N ếu đơn vị hoàn thành 100% chỉ tiêu kế hoạch thu thuế CTN cả năm do cấp trên giao và có đủ điều kiện xét thưởng như nói ở phần a, điểm 1 mục II trên thì đơn vị được trích 0,5% (nửa phần trăm) trên số thuế thu được để lập ba quỹ. Quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi được trích lập cộng lại không vượt quá 20% quỹ tiền lương thực hiện cả năm của đơn vị. Số tiền thưởng còn lại dành cho quỹ mua sắm phương tiện làm việc. Nếu đơn vị không hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch thu thuế CTN cả năm do cấp trên giao thì đơn vị bị giảm mức tiền thưởng để trích lập ba quỹ theo tỷ lệ tương ứng. Thí dụ: Phòng thuế CTN huyện A chỉ thực hiện được 95% chỉ tiêu kế hoạch thu thuế CTN cả năm do cấp trên giao thì mức tiền thưởng cho ba quỹ của đơn vị bị giảm 5% trên số tiền thưởng đã tính. - Nếu đơn vị hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế haọch thu thuế CTN cả năm do cấp trên giao và có đủ các điều kiện xét thưởng theo quy định trên thì đơn vị được trích thưởng thêm 5% (năm phần trăm) trên số tiền thuế thu vượt mức kế hoạch để bổ sung cho ba quỹ theo tỷ lệ sau: 40% cho quỹ khen thưởng 30% cho quỹ phúc lợi 30% cho quỹ mua sắm phương tiện làm việc. - Mức trích quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi trong kế hoạch và vượt kế hoạch tối đa không quá 5 tháng lương (lương chính mới) cho mỗi quỹ; phần còn lại bổ sung vào quỹ mua sắm phương tiện làm việc. b. Đối với cán bộ, nhân viên trực tiếp làm nhiệm vụ kiểm soát, thu thuế ở các trạm, tổ, đội thu thuế thuộc các phòng thuế CTN quận, huyện, thị xã: - Nếu hoàn thành 100% kế hoạch thuế CTN hàng quý do cấp trên giao và có đủ các điều kiện xét thưởng theo quy định ở phần b, điểm 1, mục II nói trên thì mức thưởng cao nhất cho mỗi quý bằng 1 tháng lương cấp bậc hay chức vụ của cá nhân đó. - Nếu hoàn thành vượt mức kế hoạch thuế CTN quý thì được trích thưởng thêm 5% trên phần tiền thuế thu vượt mức kế hoạch, nhưng tối đa không được vượt quá nửa tháng lương cấp bậc hay chức vụ của cá nhân đó. c. Đối với cán bộ, nhân viên không trực tiếp làm nhiệm vụ kiểm soát thu thuế CTN (cán bộ quản lý, nghiên cứu, kiểm tra, nhân viên nghiệp vụ hành chính, kế toán, thống kê, tài vụ, quản trị . . .) trong các đơn vị thuộc ngành thuế CTN ở các cấp: - Nếu đơn vị hoàn thành 100% chỉ tiêu kế hoạch thuế CTN quý được cấp trên giao, và nếu cá nhân cán bộ, nhân viên không trực tiếp làm nhiệm vụ kiểm soát, thu thuế có thành tích, đủ điều kiện xét thưởng theo quy định ở phần c, điểm 1, mục II nêu trên thì mức thưởng cao nhất bằng 1/2 tháng lương cấp bậc hoặc chức vụ của cá nhân đó. - Nếu đơn vị hoàn thành vượt mức kế hoạch thu thuế CTN quý được cấp trên giao và cá nhân đó có thành tích, đủ điều kiện xét thưởng, sẽ được thưởng thêm, nhưng mức thưởng thêm cao nhất không qúa 1/4 tháng lương cấp bậc hay chức vụ của cá nhân đó. d. Đối với các trường hợp đơn vị và cá nhân hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc thì ngoài mức thưởng quy định trên, sẽ được Bộ trưởng Bộ Tài chính xét khen thưởng cao hơn. đ. Đối với những cán bộ, nhân viên thuế không đạt được điều kiện xét thưởng theo quy định tại phần b, và c, điểm 1, mục II nói trên, thì được xét thưởng theo chế độ tiền thưởng hoàn thành nhiệm vụ công tác cuối năm ban hành theo Quyết định số 198/HĐBT ngày 15/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng và Thông tư hướng dẫn của Bộ Lao động số 28/LĐ-TT ngày 15/12/1982. Số tiền thưởng nói trên được trích từ quỹ khen thưởng của ngành thuế quy định trong thông tư này, không được dùng nguồn kinhphí khác để thưởng. 3/ Thể thức xét thưởng: Bộ trưởng Bộ Tài chính xét, quyết định tổng mức tiền thưởng, căn cứ vào mức độ hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch thu thuế CTN trong cả năm cho toàn ngành thuế CTN cả nước, trong đó có mức tiền thưởng cho Cục thuế CTN. Cục trưởng Cục thuế CTN căn cứ vào chế độ quy định trong Quyết định số 356-CT ngày 22/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng và thông tư này, cùng với tổng mức tiền thưởng được Bộ duyệt cho toàn ngành để xét duyệt mức tiền thưởng cho Chi cục thuế CTN các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương. Chi cục trưởng Chi cục thuế CTN xét duyệt mức tiền thưởng cho từng phòng thuế CTN quận, huyện, thị xã sau khi có ý kiến của đồng chí giám đốc Sở, Trưởng ty tài chính ở địa phương. Trường phòng thuế CTN quận, huyện, thị xã xét quyết định mức tiền thưởng cho từng cán bộ, nhân viên của đơn vị, sau khi có ý kiến của đồng chí trưởng ban tài chính giá cả và ý kiến của UBND quận, huyện, thị xã. Thủ trưởng các đơn vị ngành thuế CTN ở các cấp (Cục trưởng Cục thuế CTN, Chi cục, Trưởng Chi cục thuế CTN, trưởng phòng thuế CTN quận, huyện, thị xã) căn cứ vào mức độ hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch thu thuế CTN, các điều kiện xét thưởng đã quy định, căn cứ vào mức tiền thưởng được cấp trên xét duyệt chính thức cho đơn vị và sau khi bàn bạc thống nhất ý kiến với Ban chấp hành công đoàn cùng cấp, quyết định mức tiền thưởng cả năm cho từng cán bộ, nhân viên thuế của đơn vị theo những quy định nói trên. Trường hợp cán bộ, nhân viên và đơn vị trong ngành thuế CTN hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch thu thuế CTN được cấp trên giao, nhưng có thiếu sót về mặt chấp hành chính sách, chế độ và luật pháp của Nhà nước, thì thủ trưởng đơn vị sau khi đã thống nhất ý kiến với Ban chấp hành công đoàn cùng cấp tuỳ theo tính chất và mức độ của những thiếu sót, có thể xét giảm số tiền được thưởng từ 10% đến 50% so với mức quy định. Trường hợp cán bộ nhân viên mắc sai phạm nghiêm trọng thì ngoài việc không được thưởng còn bị xử lý theo pháp luật của Nhà nước tuỳ theo mức độ vi phạm. 4/ Để kịp thời động viên các đơn vị và cá nhân cán bộ thuế thường xuyên đẩy mạnh công tác thu thuế, thủ trưởng đơn vị ngành thuế các cấp căn cứ vào dự toán kinh phí về tiền thưởng đã được cấp trên duyệt và cấp, để tạm trích thưởng hàng quý cho cán bộ, nhân viên theo quy định ở phần b, và c, điểm 2, mục II nói trên. III- NGUỒN KINH PHÍ VÀ QUY ĐỊNH VỀ VIỆC LẬP, QUẢN LÝ SỬ DỤNG BA QUỸ: 1/ Nguồn kinh phí: Kinh phí về chế độ khuyến khích vật chất đối với ngành thuế CTN do Ngân sách Nhà nước cấp trong kinh phí hạn mức về công tác quản lý thu thuế CTN hàng năm. Các địa phương và đơn vị cơ sở không được trích từ tiền thuế thu được hoặc từ các nguồn kinh phí khác để lập 3 quỹ của đơn vị. 2/ Lập dự toán kinh phí về chế độ khuyến khích vật chất đối với ngành thuế CTN: Các đơn vị trong ngành thuế CTN ở mỗi cấp hàng năm phải lập dự toán kinh phí để lập 3 quỹ của đơn vị theo chế độ quy định tại Quyết định 356-CT của Hội đồng Bộ trưởng, báo cáo lên cơ quan thuế cấp trên duyệt và đưa vào dự toán hạn mức kinh phí chung về công tác thuế CTN của đơn vị. Dự toán kinh phí trích lập 3 quỹ cần phân chia: - Tiền thưởng được trích để bổ sung vào 3 quỹ của đơn vị theo quy định tại điểm 2, mục II nêu trên. - Tiền thưởng hàng quý cho cán bộ, nhân viên trực tiếp làm nhiệm vụ kiểm soát thu thuế thuộc đơn vị cơ sở. - Tiền thưởng hàng quý cho cán bộ, nhân viên không trực tiếp làm nhiệm vụ kiểm soát thu thuế. 3/ Ngành thuế CTN có trách nhiệm quản lý chặt chẽ việc trích lập và sử dụng 3 quỹ theo đúng nội dung quy định tại Quyết định 356-CT của Hội đồng Bộ trưởng và thông tư này. Cục thuế CTN có trách nhiệm xét duyệt, cấp phát kinh phí và hướng dẫn sử dụng các quỹ khen thưởng, phúc lợi và mua sắm phương tiện của ngành thuế trong cả nước. Cuối năm, các đơn vị phải báo cáo quyết toán việc lập và sử dụng ba quỹ với cơ quan thuế cấp trên. Cục thuế CTN tổng hợp quyết toán ba quỹ của ngành thuế CTN cả nước để báo cáo với Bộ trưởng Bộ Tài chính. IV- HIỆU LỰC THI HÀNH 1/ Thông tư này có hiệu lực thi hành thống nhất trong ngành thuế CTN cả nước từ năm 1982. 2/ Bãi bỏ chế độ tiền thưởng về hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch thu thuế CTN ban hành tạm thời theo công văn số 230-TC/CTN ngày 19/10/1980 của Bộ Tài chính. 3/ Cục thuế CTN Trung ương; Sở, Ty tài chính; Chi cục thuế CTN các tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra việc thi hành nghiêm chỉnh thông tư này./.