THÔNG TƯ Hướng dẫn thi hành Thông tư 67 - CT ngày 09 tháng 03 năm 1983 của Hội đồng Bộ trưởng Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành thông tư 67/CT ngày 9/3/1983 về việc bổ sung chỉ thị số 316/TTg ngày 19/9/1979 cảu Thủ tướng Chính phủ để đẩy mạnh huy động vật tư tồn kho ứ đọng ra sử dụng.
Sau khi thống nhất với ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính hướng dẫn một số điểm về mặt tài chính như sau: I. PHÂN LOẠI VẬT TƯ Ứ ĐỌNG CHẬM LUÂN CHUYỂN: Để có cơ sở giải quyết vật tư ứ đọng theo tinh thần thông tư 67/CT, các Bộ các ngành
căn cứ kiểm kê 1/1/1983 để phân rõ 3 loại thiết bị vật tư sau đây: 1. Thiết bị vật tư dự trữ trong định mức: Chỉ thị 167/CT ngày 26/9/1981 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định mức dự trữ tuỳ theo tính chất đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng loại vật tư để xác định thời gian dự trữ cho thích hợp. - Không quá 3 tháng đối với các đơn vị thương nghiệp, sản xuất - Không quá 6 tháng đối với đơn vị cung ứng - Đối với vật tư chuyên dùng có thể dự trữ cao hơn. 2. Thiết bị vật tư ứ đọng: Chỉ thị 316/TTg quy định thiết bị vật tư ứ đọng bao gồm tất cả cá loại như nguyên liệu, vật liệu, dụng cụ, phụ tùng, máy móc thuộc tài sản lưu động, thuộc tài sản cố định và thuộc các nguồn vốn khác của các ngành hành chính sự nghiệp, quốc phòng. Thiết bị vật tư nói trên còn nguyên vẹn hoặc đã sử dụng dở dang, phẩm chất còn tốt hoặc đã kém mất phẩm chất mà không có kế hoạch sử dụng và cung ứng trong năm kế hoạch, hoặc không nằm trong kế hoạch sử dụng cho các năm sau, cụ thể là: - Thiết bị vật tư mất kém phẩm chất - Thiết bị vật tư lạc hậu về kỹ thuật hoặc không đồng bộ - Thiết bị vật tư dự trữ quá 2 năm. 3. Thiết bị vật tư chậm luân chuyển: Những thiết bị vật tư dự trữ trên định mức nhưng không quá 2 năm, thuộc loại thiết bị vật tư chậm luân chuyển. II. GIÁ CẢ NHƯỢNG BÁN THIẾT BỊ VẬT TƯ Ứ ĐỌNG CHẬM LUÂN CHUYỂN: Thông tư 67/CT quy định giá cả nhượng bán thiết bị vật tư ứ đọng vẫn căn cứ vào điểm 7 của chỉ thị 316/TTg và những quy định mới trong thông tư này, cụ thể là: 1. Đối với thiết bị vật tư thuộc tài sản lưu động. a) Thiết bị vật tư chậm luân chuyển phải phân phối theo chỉ tiêu của kế hoạch Nhà nước hoặc phân phối theo lệnh của Bộ chủ quản (đối với đơn vị thuộc trung ương) hoặc lệnh phân phối của UBND tỉnh, thành phố (đối với đơn vị trực thuộc địa phương) thì giá thanh toán được tính theo giá bán buôn vật tư hiện hành. b) Thiết bị vật tư ứ đọng, phải phân biệt các trường hợp cụ thể sau: - Thiết bị vật tư vượt mức dự trữ trên 2 năm nhưng phẩm chất còn tốt thì đối với vật tư phải bán nguyên giá và theo lệnh phân phối của Nhà nước ; đối với thiết bị đưa vào dự trữ Nhà nước . - Thiết bị vật tư lạc hậu về kỹ thuật, không đồng bộ hoặc mất kém phẩm chất cần giải quyết cụ thể như sau: + Nếu nhượng bán cho các đơn vị kinh tế quốc doanh thì giám đốc xí nghiệp căn cứ vào đề nghị của Hội đồng định giá để báo cáo Tổng giám đốc liên hiệp các xí nghiệp quốc doanh hoặc Bộ chủ quản (nếu là xí nghiệp trung ương quản lý) và uỷ ban nhân dân tỉnh (nếu là xí nghiệp địa phương quản lý) duyệt giá bán cho từng loại thiết bị vật tư hoăcj giá phụ tùng của từng mác xe, máy. Trường hợp phải giảm đơn giá tới 50% thì Bộ chủ quản quyết định sau khi thoả thuận với Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước (nếu đơn vị hiện vẫn vay ngân hàng để dự trữ loại thiết bị vật tư này). + Nếu nhượng bán cho các đơn vị kinh tế tập thể thì giảm giá từ 20% trửo lên phải do Bộ chủ quản quyết định sau khi thoả thuận với Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước (nếu đơn vị hiện vẫn vay Ngân hàng để dự trữ loại thiết bị vật tư này). 2. Đối với thiết bị ứ đọng thuộc tài sản cố định thì giải quyết theo thông tư số 260/TTg ngày 20/6/1977 của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ sung, sửa đổi một số quy định về quản lý và hạch toán tài sản cố định của các xí nghiệp quốc doanh (Phần III nhượng bán tài sản cố định giữa các xí nghiệp và tổ chức kinh tế) và các chế độ về thanh xử lý tài sản hiện hành. Trường hợp bàn giao tài sản cố định sẽ được nói ở phần V. III. THANH LÝ TÀI SẢN: - Đối với thiết bị phụ tùng mất, kém phẩm chất hoặc lạc hậu về kỹ thuật (thuộc tài sản lưu động và tài sản cố định đã hạ giá và bán ngoài chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước sau khi đã thực hiện các biện pháp như quảng cáo, trưng bày ... mà vẫn không bán được thì các cơ sở được tự tổ chức sửa chữa cải tạo hoặc tháo gỡ lấy phụ tùng, nguyên liệu bán thu hồi vốn và phải thực hiện đúng quy định trong chỉ thị 368/CT ngày 27/12/1982 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc thu hồi kim loại ở dạng phế liệu, phế thải trong quân đội, trong ngành giao thông vận tải và ở các địa phương, cụ thể là: a) Phải làm thủ tục thanh lý theo chế độ thanh lý tài sản hiện hành. b) Phải lập dự án, xử lý, ghi rõ giá trị thu hồi, phân loại cụ thể các loại có thể sửa chữa để tiếp tục sử dụng hoặc bán, hoặc thu hồi phụ kiện, cấu hiện hoặc phế liệu thuộc kim loại màu, kim loại đenv.v... c) Nguồn kinh phí chi tiêu cho việc thu hồi, tháo gỡ, chế biến tiêu thụ các phế liệu, phế thải. - Nếu chế biến thành những sản phẩm mới thì bằng nguồn vốn lưu động, hạch toán vào giá thành sản phẩm. Giá bán ra tối thiểu phải bù đắp được chi phí sản xuất cho sản phẩm đó. - Nếu cải chế thành tài sản cố định để sử dụng thì dùng quỹ khuyến khích phát triển sản xuất của xí nghiệp. - Nếu sửa chữa để bán cho cơ quan cung ứng vật tư hoặc bán cho đơn vị khác thì chi bằng nguồn vốn lưu động và được bù đắp bằng tiền bán hàng. d) Nếu số thu về thanh lý tài sản (sau khi đã trừ chi phí) mà giảm vốn tới 65% nguyên giá tài sản thì Bộ chủ quản bàn bạc với Bộ Tài chính để giải quyết. IV. GIẢI QUYẾT KHOẢN CHÊNH LỆCH TĂNG GIẢM GIÁ DO NHƯỢNG BÁN THIẾT BỊ, VẬT TƯ Ứ ĐỌNG LÀ TÀI SẢN LƯU ĐỘNG: Theo quyết định số 177/CT ngày 29/9/1981 và quyết định số 28/HĐBT ngày 19/2/1982 của Hội đồng Bộ trưởng thì từ 1/10/1981 giá bán buôn vật tư đẫ được điều chỉnh cao hơn.
Phần chênh lệch giữa giá cũ và giá mới của một số thiết bị vật tư tồn kho (kể cả các loại, thiết bị vật tư ứ đọng) đơn vị đã hạch toán theo quy định của thông tư số 27 - LB/TT ngày 27 tháng 10 năm 1981 của Liên Bộ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước . Vì vậy khoản tăng giảm giá do tiêu thụ thiết bị vật tư ứ đọng được giải quyết như sau:
Phần chênh lệch giảm đến mức giá trước 1/10/1981 thì hạch toán như điểm 1 đã hướng dẫn.
Phần chênh lệch giữa giá trước 1/10/1981 với giá bán thực tế phải hạch toán vào lỗ.
Mục 4 thông tư 67/CT của Hội đồng Bộ trưởng đã quy định mức khuyến khích các đơn vị cơ sở tích cực giải quyết vật tư ứ đọng. Bộ Tài chính quy định cụ thể như sau:
Phần thiết bị vật tư ứ đọng giải quyết bằng cách bàn giao, tăng giảm vốn thì không được trích thưỏng.
Phần bổ sung quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi bằng tiền thưởng do tiêu thụ thiết bị vật tư ứ đọng mỗi quỹ tối đa không quá 2 tháng lương thực tế, phần còn thừa chuyển vào quỹ khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh.