THÔNG TƯ Hướng dẫn thực hiện chế độ trợ cấp nghỉ hè, dưỡng sức năm 1983 cho cán bộ, công nhân, viên chức khu vực hành chính sự nghiệp. Thi hành công văn số 4.007 - V13 ngày 13/9/1983 của Hội đồng Bộ trưởng về chế độ trợ cấp nghỉ hè, nghỉ dưỡng sức năm 1983 cho cán bộ, công nhân, viên chức khu vực hành chính sự nghiệp đang làm việc và có thời gian công tác liên tục 12 năm trở lên; Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành công văn nói trên như sau: I. PHẠM VI THỰC HIỆN: 1. Chế độ trợ cấp nghỉ hè, nghỉ dưỡng sức năm 1983 chỉ áp dụng đối với cơ quan quản lý Nhà nước, Đảng và Đoàn thể từ cấp huyện trở lên và các đơn vị sự nghiệp trực thuộc các cơ quan này. 2. Các đơn vị sản xuất, kinh doanh đã thực hiện chế độ tiền lương, tiền thưởng theo quyết định số 51 - CT ngày 11/3/1982 của Hội đồng Bộ trưởng; các lực lượng võ trang quốc phòng và công an nhân dân đã có chế độ nghỉ bồi dưỡng riêng; các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp đã được lập quỹ tiền thưởng hàng năm cao hơn 10% quỹ tiền lương (1) các tổ chức hành chính, sự nghiệp của ta công tác ở nước ngoài nhưng không thuộc quỹ lương trong nước thì không thuộc phạm vi áp dụng chế độ trợ cấp hướng dẫn tại thông tư này. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ MỨC BỒI DƯỠNG 1. Cán bộ, công nhân viên chức đang làm việc ở các cơ quan hành chính và các đơn vị sự nghiệp trực thuộc nói ở điểm 1 phần I đã có 12 năm công tác liên tục trở lên (tính đến 31/8/1983) thuộc đối tượng để
xét hưởng chế độ nghỉ hè, nghỉ dưỡng sức năm 1983. Đối tượng phân loại cụ thể để được hưởng các mức bồi dưỡng cần theo đúng quy định tại công văn số 2.370-TC/TW ngày 15/8/1983 của Ban tổ chức Trung ương, cụ thể như sau: - Loại A: Gồm các đồng chí Bộ trưởng, Trưởng ban của Trung ương Đảng; các đồng chí giữ các chức vụ khác có mức lương chính cũ 192đ; Bí thư, Chủ tịch thành phố Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh; chuyên viên bậc 9: tỷ lệ được trợ cấp bằng 100% số cán bộ trong diện mức bồi dưỡng 500đ/người. - Loại B: Gồm các đồng chí Thứ trưởng; Phó trưởng Ban của TW Đảng; Bí thư, Chủ tịch tỉnh và cấp tương đương; Tổng cục phó Tổng cục trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng; Giáo sư có mức lương chính cũ 160đ trở lên; chuyên viên bậc 7, 8 và những người giữ các chức vụ khác có mức lương chính cũ từ 170đ trở lên: tỷ lệ được trợ cấp bằng 100% số cán bộ trong diện, mức bồi dưỡng 400đ/ người. - Loại C: Gồm các đồng chí cán bộ cấp vụ trực thuộc các Bộ và các cơ quan tương đương cấp Bộ ở Trung ương; Giám đốc sở các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc TW; Giáo sư, phó giáo sư có mức lương chĩnh cũ dưới 160đ; Bí thư, chủ tịch huyện; các cán bộ giữ các chức vụ khác có mức lương chính cũ từ 115đ và chuyên viên bậc 2 trở lên: tỷ lệ được trợ cấp bằng 100% số cán bộ trong diện, mức bồi dưỡng 300đ/người - Loại D: Gồm các cán bộ khác của các ngành, các cấp có mức lương chính cũ từ 90đ trở lên: tỷ lệ được trợ cấp bằng 50% số cán bộ trong diện, mức bồi dưỡng 200đ/người. - Loại đ trở xuống: Gồm các cán bộ còn lại của các ngành các cấp có mức lương chính cũ dưới 90đ: tỷ lệ được trợ cấp bằng 25% số cán bộ trong diện, mức bồi dưỡng 150đ/người. 2. Các đối tượng nói trên, nếu trong thời gian từ 31/8/1982 đến 31/8/1983 thuộc một trong các trường hợp dưới đây, không tính để hưởng khoản trợ cấp quy định ở điểm 1 nói trên: - Đã điều trị ở Bệnh viện, Viện điều dưỡng từ 3 tháng trở lên; - Đã đi tham quan hoặc nghỉ mát ở nước ngoài từ 1 tháng trở lên; - Đã đi học ở các trường đào tạo hoặc bồi dưỡng tập trung từ 6 tháng trở lên; - Đã bị thi hành kỷ luật của Đảng, của Nhà nước, của các Đoàn thể quần chúng từ hình thức khiển trách trở lên. 3. Những cán bộ được cử làm chuyên gia giúp các nước bạn Lào, Campuchia nếu vẫn hưởng chế độ tiền lương thống nhất ở trong nước thuộc diện được hưởng chế độ trợ cấp nghỉ hè, nghỉ dưỡng sức 1983 như cán bộ công tác ở trong nước. III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN: 1.
Căn cứ để xét trợ cấp nghỉ hè, nghỉ dưỡng sức 1983 là chức vụ hoặc mức lương chính cũ theo danh sách lĩnh lương tháng 9/1983 của từng cơ quan, đơn vị, cán bộ, công nhân, viên chức lĩnh lương tháng 9/1983 tại cơ quan, đơn vị nào, cơ quan, đơn vị ấy có trách nhiệm cấp phát trợ cấp. 2. Thủ trưởng cơ quan, đoàn thể Trung ương và các Sở, Ban, ngành của địa phương có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo thực hiện việc trợ cấp nghỉ hè, nghỉ dưỡng sức 1983 cho cán bộ, công nhân viên của cơ quan và các đơn vị sự nghiệp trực thuộc mình quản lý. Khi xét danh sách các đối tượng được trợ cấp phải trừ những người không đủ tiêu chuẩn thâm niên công tác và các đối tượng không được trợ cấp nói ở điểm 2 phần II nói trên và khi tính trợ cấp đối với mức 200đ/người và 150đ/người nếu có lẻ 1/2 định xuất thì được tính tròn một định xuất. 3. Nguồn kinh phí chi trợ cấp: Cơ quan, đơn vị thuộc cấp nào, thì ngân sách cấp ấy đài thọ và ghi vào mục V (BHXH) các loại, khoản, hạng, tương ứng của từng cấp ngân sách theo mục lục Ngân sách Nhà nước hiện hành. Các ngành ở Trung ương và các địa phương giải quyết khoản trợ cấp này trong phạm vi ngân sách năm 1983 đã được duyệt. Nơi nào có khó khăn về kinh phí thì làm việc với Bộ Tài chính để giải quyết.
Sau khi trả trợ cấp cho cán bộ, công nhân viên chức, các cơ quan đoàn thể phải báo cáo ngay tình hình thực hiện theo mẫu đính kèm thông tư này và theo quy định cụ thể dưới đây: - Các Bộ, cơ quan, đoàn thể thuộc ngân sách Trung ương phải tổng hợp tình hình chi trợ cấp của toàn cơ quan mình, báo cáo cho Bộ Tài chính chậm nhất vào đầu tháng 11/1983: - Các Sở, Ban, Ngành, Quận, Huyện thuộc ngân sách địa phương phải báo cáo cho Sở Tài chính chậm nhất vào cuối tháng 10/1983. Các Sở Tài chính phải tổng hợp tình hình chi trợ cấp của địa phương mình, báo cáo Bộ Tài chính chậm nhất vào cuối tháng 11 năm 1983. Để việc thực hiện chế độ trợ cấp nghỉ hè, nghỉ dưỡng sức năm 1983 thu được kết quả tốt, đề nghị các Bộ, Uỷ Ban Nhà nước các cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng, các Đảng, đoàn thể Trung ương và Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương phổ biến và hướng dẫn các cơ quan, đơn vị trực thuộc thi hành đúng công văn số 4.007 - V13 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và thông tư hướng dẫn thi hành này./.