THÔNG TƯ Hướng dẫn bổ sung việc lập dự toán ngân sách Nhà nước năm 1984 đối với các tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương Bộ Tài chính đã có thông tư số 23-TC/NSNN ngày 25/8/1983 hướng dẫn lập kế hoạch tài chính và dự toán Ngân sách Nhà nước năm 1984. Ngày 19/11/1983, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành nghị quyết số 138/HĐBT về cải tiến chế độ phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương. Để gắn việc lập dự toán ngân sách với chế độ mới về phân cấp quản lý ngân sách Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung và cụ thể thêm một số điểm cần thiết để các tỉnh, thành phố và đặc khu lập dự toán ngân sách Nhà nước năm 1984 như sau: I. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGÂN SÁCH NĂM 1983 Để có cơ sở chắc cắn trong việc tính toán lập dự toán Ngân sách năm 1984, trước hết phải đánh giá sát đúng kết quả thực hiện kế hoạch Nhà nước và dự toán thu chi Ngân sách năm 1983. 1. Về thu: Cần đi sâu đánh giá đúng khả năng thu, phân tích tình hình kinh tế và nguyên nhân chủ quan, khách quan về mặt quản lý trong quá trình thực hiện kế hoạch Nhà nước và Ngân sách Nhà nước . a) Thu từ kinh tế quốc doanh: Trong khu vực kinh tế quốc doanh, đi đôi với việc xác định khả năng hoàn thành về kế hoạch sản lượng, giao nộp sản phẩm, thu mua và phân phối hàng hoá, khối lượng vận chuyển v.v... cần phân tích kỹ chất lượng sản phẩm, chi phí trong giá thành và chi phí lưu thông của từng xí nghiệp, từng mặt hàng, khi phân tích cần loại trừ các yếu tố không thể chấp nhận được trong giá thành và trong chi phí lưu thông để xác định được giá thành hợp lý của những sản phẩm chủ yếu trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ hải sản, xác định định mức chi phí hợp lý về vật tư, nguyên liệu, năng lượng, vận tải, lao động v.v... để xác định mức tích luỹ định mức, làm cơ sở tính toán dự toán thu Ngân sách 1984. b) Thu từ kinh tế tập thể, cá thể: Đối với khu vực kinh tế tập thể và cá thể, thông qua kết quả thu được của từng loại thuế, cần phân tích kỹ các yếu tố trước và
sau khi thi hành Pháp lệnh thuế mới về sản xuất kinh doanh của từng loại hộ, diễn biến về giá cả, tình hình quản lý thị trường và các biện pháp chỉ đạo của địa phương; đánh giá mức độ thất thu đối với từng loại thuế (thất thu về hộ về doanh thu ...) để có
căn cứ tính toán đầy đủ cho kế hoạch thu của năm 1984. c) Đối với các khoản thu về khuyến khích giao nộp nông sản, thu về các hoạt động sự nghiệp, thu xổ số kiến thiết và các khoản thu khác như lệ phí, tiền phạt v.v..., cần soát xét kỹ từng khoản để tránh bỏ sót.
Sau khi xác định được số phát sinh trong năm 1983, cần dự kiến số phải nộp trong năm 1983 và số chuyển nộp vào năm sau để một mặt tích cực đôn đốc thu nộp cuối năm bảo đảm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu ngân sách 1983; mặt khác kịp thời đề ra các biện pháp nhằm khắc phục những mặt tồn tại, yếu kém ngay từ đầu năm sau. 2. Về chi: Cần soát xét lại từng khoản chi để xác định mức độ hoàn thành kế hoạch chi năm 1983. a) Vốn đầu tư xây dựng cơ bản: Đi sâu phân tích kỹ chất lượng và giá thành công trình đã hoàn thành, loại trừ các yếu tố bất hợp lý, lãng phí để có căn cứ bố trí vốn cho các công trình năm sau được sát. Bắt đầu từ năm 1984 vốn đầu tư cơ bản để tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, tạo ra cơ cấu kinh tế mới theo ngành và theo địa phương do ngân sách Trung ương đảm nhiệm; do đó cần đánh giá sát khả năng hoàn thành của từng công trình xây trong năm 1983. Những công trình có khối lượng dở dang thuộc phạm vi đầu tư XDCB nói trên phải được kế hoạch hoá vào chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước năm 1984 để có đủ vốn xây dựng tiếp. b) Chi bù giá hàng cung cấp cho công nhân viên chức là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn trong ngân sachs. Cần soát xét kỹ các đối tượng, tiêu chuẩn định lượng và giá cả (giá vốn, giá bán) lương thực, thực phẩm và hàng công nghệ đã bán theo giá cung cấp; cần phân tích rõ đối tượng và định lượng được hưởng theo chính sách quy định chung của Nhà nước, đối tượng và lượng hàng do địa phương quyết định bán thêm (nếu có); xác định giá vốn từng mặt hàng trên cơ sở lượng hàng và giá mua với nhiều nhiều hình thức (mua theo nghĩa vụ, trao đổi hàng 2 chiều, mua theo giá khuyến khích) qua từng thời vụ và mức phí hợp lý (chú ý tính toán kỹ các yếu tố thu hồi về lương thực, thịt lợn.... để giảm chi bù giá) để xác định đúng mức số chênh lệch giá phải bù của từng mặt hàng. Soát lại phương thức bù tiền thay hiện vật để loại trừ tình trạng nhập nhằng giữa bù bằng tiền và bù qua kinh doanh, tránh tăng chi phí một cách giả tạo. Từ đầu năm 1984, khoản chi bù giá hàng cung cấp cho các đối tượng thuộc TW quản lý sẽ do Ngân sách Trung ương đảm nhiệm. Để giải quyết gọn các khoản bù giá phát sinh trong năm 1983, các Sở tài chính cần bố trí đủ vốn cấp bù; mặt khác cần đôn đốc giúp đỡ cơ quan lương thực và nội thương thanh toán, quyết toán kịp thời khoản chi bù giá năm 1983, không để tồn đọng sang năm 1984. c) Vốn lưu động cấp thêm: Trên cơ sở xác định vốn lưu động định mức năm 1983, đối với các xí nghiệp quốc doanh địa phương tiếu vốn tự có, Hội đồng Bộ trưởng đã quyết định cho tiếp tục thi hành chỉ thị 301/CT đến thời hạn cuối cùng là 30/11/1983. Các địa phương thi hành theo đúng công điện số 01/LB ngày 18/10/1983 của Liên Bộ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước và báo cáo kịp thời về Bộ tình hình cấp phát của Ngân sách và Ngân hàng cho vay thay ngân sách năm 1983. d) Kinh phí sự nghiệp và hành chính: năm 1983 có nhiều chính sách mới sửa đổi, đồng thời ở một số tỉnh có những khoản chi đột xuất về khắc phục hậu quả bão lũ .... Một số tỉnh, thành phố đã chi một số khoản có tính chất chi phí sự nghiệp như: làm đường giao thông, phát triển thuỷ lợi, phát triển chăn nuôi, nuôi trồng cây công nghiệp, trang bị bàn ghế dụng cụ cho trường học, bệnh viện ...; tăng thêm chi phí về sửa chữa lớn trụ sở, nhà ở, trường học bệnh viện và sự nghiệp công cộng như: điện, nước, vệ sinh cỗng rãnh ... Cần phân tích rõ các yếu tố trên để xác định mức chi tiêu thường xuyên và phải loại trừ các khoản chi về hội nghị, tiếp khách, quà tặng không đúng chế độ Nhà nước để có căn cứ tính toán kế hoạch chi thường xuyên và hành chính sự nghiệp năm 1984 được sat. Ngoài ra cần đối soát với chỉ tiêu biên chế của Ban tổ chức Chính phủ quy định cho địa phương để xác định số biên chế và quỹ tiền lương bố trí trong kế hoạch chi năm 1984. Tóm lại, trước khi xây dựng kế hoạch ngân sách 1984, phải đánh giá và phân tích đúng mức khả năng thu, chi ngân sách 1983 để có những biện pháp tích cực thực hiện hoàn thành và hoàn thành vượt mức ngân sách 1983, có căn cứ để tính toán xây dựng ngân sách 1984 được sát đúng. II. LẬP KẾ HOẠCH THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ KẾ HOẠCH THU, CHI NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG NĂM 1984. Nội dung và yêu cầu lập kế hoạch, tài chính và dự toán ngân sách Nhà nước năm 1984 theo chỉ thị của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng số 179/CT ngày 29/6/1983 đã được Bộ Tài chính hướng dẫn trong thông tư số 23-TC/NSNN ngày 25/8/1983. Để phù hợp với chế độ cải tiến phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương đã được Hội đồng Bộ trưởng ban hành tại nghị quyết số 138/HĐBT ngày 19/11/1983, trong việc lập dự toán thu, chi ngân sách năm 1984 cần chú ý thực hiện tốt những điểm hướng dẫn bổ sung dưới đây: A. Kế hoạch hoá các khoản thu được sửa đổi theo chế độ phân cấp quản lý ngân sách mới: 1. Đối với các khoản thu thuộc XNQD TW quản lý: Sở tài chịnh cùng với chi cục (phòng) thu quốc doanh TW thông qua công tác quản lý tài chính các xí nghiệp TW đóng trên địa bàn, xây dựng kế hoạch thu của từng xí nghiệp TW, phân rõ số thu quốc doanh, trích nộp lợi nhuận chênh lệch giá I, khấu hao cơ bản, hoàn vốn lưu động thừa .... để ghi vào tổng số thu NSNN trên địa bàn tỉnh. Theo chế độ phân cấp quản lý ngân sách mới, số thu quốc doanh từ các xí nghiệp do Trung ương quản lý được điều tiết 5% và lợi nhuận được điêù tiết 10% cho ngân sách địa phương. Các khoản chênh lệch giá I đều phải nộp 100% vào NSTW. Đối với các xí nghiệp TW hạch toán theo hệ thống dọc toàn ngành như đường sắt, đường biển, hàng không dân dụng, bưu điện, Ngân hàng Nhà nước , Bảo hiểm Nhà nước, điện lực, Công ty ngoại thương thuộc Bộ ngoại thương, Công ty vật tư thuộc Bộ Vật tư, Công ty lương thực thuộc Bộ lương thực trước đây không điều tiết cho NSĐP thì nay đều thuộc diện được điều tiết 10% số lợi nhuận nộp cho ngân sách địa phương. Bộ Tài chính sẽ cùng với Bộ chủ quản các ngành trên quy định chế độ thu nộp về khoản vay cho NSĐP theo hướng: - Đối với các xí nghiệp hạch toán độc lập như các xí nghiệp vận tải đường biển, cảng biển, sân bay hàng không, các công ty thuộc Bộ vật tư, Bộ Ngoại thương, Bộ Lương thực đóng ở địa phương nào thì trích nộp 10% lợi nhuận cho NSĐP cấp đó. - Đối với các ngành: Ngân hàng Nhà nước , bưu điện, Bảo hiểm Nhà nước thì ngành chủ quản căn cứ vào kế hoạch nộp lợi nhuận tính toán trên cơ sở kế hoạch doanh thu cả năm tại mỗi địa phương để thông báo cho địa phương biết mức thu (10% lợi nhuận) ngay từ đầu năm để ghi NSĐP. - Đối với ngành điện lực, Bộ Điện lực sẽ phân bổ mức thu (10% lợi nhuận) cho những nơi có nhà máy điện; Bộ Giao thông (Tổng cục đường sắt) sẽ có hướng dẫn chế độ nộp (10% lợi nhuận ) tính theo doanh số cho những tỉnh có đường sắt chạy qua để địa phương tính toán ghi thu NSĐP. - Đối với các xí nghiệp thuộc “Liên hiệp xí nghiệp” và “Xí nghiệp liên hợp” đóng ở tỉnh nào đều phải nộp 10% lợi nhuận cho NSĐP nơi xí nghiệp đóng. 2/ Đối với các khoản thu thuộc xí nghiệp quốc doanh do địa phương quản lý: Hiện nay, khoản thu về chênh lệch giá II và lãi kinh doanh xuất nhập khẩu địa phương, nhiều nơi chưa tính toán hết để phản ánh đầy đủ vào ngân sách, từ nay những khoản thu đó (chênh lệch giá II và lãi kinh doanh xuất nhập khẩu địa phương) đều phải ghi hết vào ngân sách và áp dụng thống nhất tỷ lệ (%) điều tiết thu như các khoản thu về lợi nhuận và thu quốc doanh của các xí nghiệp quốc doanh địa phương. 3/ Thu về sự nghiệp: Khoản thu về tiền nuôi rừng (trước đây gọi là tiền bán khoán lâm sản) từ trước đến nay được trích nộp 10% vào Ngân sách địa phương, còn 90% do Bộ Lâm nghiệp quản lý. Từ nay khoản thu về tiền nuôi rừng nộp toàn bộ 100% vào ngân sách địa phương để dùng vào mục đichs trồng cây gây rừng, tu bổ, cải tạo, quản lý và bảo vệ rừng theo đúng chế độ quy định. Các tỉnh có rừng lập kế hoạch tính toán đầy đủ số thu và số chi về tiền nuôi rừng vào ngân sách địa phương năm 1984, Liên Bộ Tài chính - Lâm nghiệp sẽ có thông tư hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng và quản lý khoản thu về sự nghiệp nuôi rừng. 4/ Thu về khuyến khích giao nộp nông sản: Về chế độ thu giao nộp nông, lâm, thuỷ, hải sản, Bộ Tài chính sẽ có văn bản hướng dẫn cụ thể về thể thức giao nộp, cấp phát, thanh toán giữa Ngân sách cấp trên với Ngân sách cấp dưới. Trong khi tính toán dự toán thu ngân sách năm 1984, các địa phương phải căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch thu mua và giao nộp từng mặt hàng nông, lâm, thuỷ, hải sản lên cấp trên để tính số thu của ngân sách địa phương (cho cấp tỉnh, cấp huyện, và cấp xã). 5/ Thu 20% quỹ phúc lợi xí nghiệp quốc doanh: Là khoản đóng góp cảu các xí nghiệp quốc doanh trung ương cho ngân sách địa phương để xây dựng công trình phúc lợi công cộng của địa phương. Sở Tài chính cùng Chi cục (Phòng) thu quốc doanh Trung ương căn cứ vào kế hoạch phân phối lợi nhuận và trích lập quỹ xí nghiệp để tính số thu cho ngân sách địa phương. Nếu chưa có kế hoạch tài vụ năm 1984 thì tạm lấy mức quỹ phúc lợi năm 1983 để tính. 6/ Thu do nhân dân đóng góp: Nhằm thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, căn cứ vào những việc cụ thể đã được chính quyền địa phương quyết định, Sở tài chính tập hợp đầy đủ số tiền hoặc số vật tư, lao động huy động quy thành tiền để ghi vào kế hoạch thu ngân sách và ghi vào kế hoạch chi đầu tư xây dựng cơ bản (nguồn vốn tự có) hoặc ghi vào chi sự nghiệp (nếu nguồn động viên được dành chi cho hoạt động sự nghiệp). B. Kế hoạch hoá các khoản chi: 1. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản để tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, tạo ra cơ cấu kinh tế mới theo ngành và theo địa phương ghi trong chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước và thông báo cho từng địa phương sẽ do ngân sách Trung ương đảm nhiệm. Đối với nguồn vốn tự có của địa phương huy động bao gồm: - Vốn tạo ra do phát triển kinh tế địa phương và do tăng thu tiết kiệm chi. - Thu về xổ số kiến thiết - Vốn do xí nghiệp quốc doanh (TW và địa phương) đóng góp bằng quỹ phúc lợi. - Tiền thu về quỹ nuôi rừng - Vốn kết dư của ngân sách địa phương năm trước - Vốn do nhân dân đóng góp theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” - Vốn vay ngân hàng. Tất cả các nguồn vốn trên phải được tính toán đầy đủ, vững chắc để ghi vào kế hoạch thu và bố trí trong kế hoạch chi. Chú ý phần vốn tự có sẽ dành cho đầu tư xây dựng cơ bản cần có danh mục công trình cụ thể (ví dụ: nguồn huy động về thu xổ số kiến thiết và 20% quỹ phúc lợi của xí nghiệp TW và địa phương đóng góp phải dành vào việc xây dựng các công trình phúc lợi công cộng, nguồn thu về nuôi rừng phải dành vào việc phát triển trồng rừng và chăm sóc, bảo vệ rừng ....); đồng thời phải tính toán cân đối vật tư để bảo đảm thực hiện tiến độ thi công xây dựng trong năm kế hoạch có hiệu quả. 2/ Lập kế hoạch bù giá hàng cung cấp cho cán bộ, công nhân, viên chức, lực lượng vũ trang và người ăn theo Năm 1984 tiến hành theo thông tư hướng dẫn số 814-TC/TNVT ngày 19/12/1983 của Bộ Tài chính. C. Tổng hợp kế hoạch thu, chi ngân sách năm 1984: Kế hoạch ngân sách năm 1984 phải được lập từ cơ sở và phải thể hiện đầy đủ 3 cấp ngân sách (tỉnh, huyện, xã). Để việc lập ngân sách được kịp thời, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố và đặc khu, trên cơ sở đánh giá hoàn thành nhiệm vụ thu, chi ngân sách 1983, dự kiến nhiệm vụ thu, chi ngân sách năm 1984 và căn cứ tỷ lệ điều tiết các khoản thu Nhà nước dành cho ngân sách địa phương (tỷ lệ theo chế độ chung và tỷ lệ điều tiết bổ sung nếu có), xác định cơ cấu chi của ngân sách Huyện xác định nguồn thu và tỷ lệ điều tiết các khoản thu dành cho ngân sách huyện (bao gồm cả phần ngân sách huyện phải dành cho ngân sách xã) Uỷ ban Nhân dân huyện trên cơ sở dự kiến nhiệm vụ chi ngân sách xã, căn cứ nguồn thu và tỷ lệ điều tiết thu được tỉnh đòi cho huyện, xác định tỷ lệ thu và mức thu về các khoản thu dành cho ngân sách từng xã, đồng thời hướng dẫn UBND các xã lập kế hoạch thu, chi ngân sách xã năm 1984. UBND huyện phải tính toán cân đối đầy đủ các khoản thu, chi của ngân sách cấp huyện (bao gồm cả khoản trợ cấp cho ngân sách các xã) và tổ chức xét duyệt ngân sách các xã trong huyện. Từ đó tổng hợp thành ngân sách huyện (bao gồm phần ngân sách cấp huyện và ngân sách xã). UBND tỉnh tính toán đầy đủ các khoản thu, chi của ngân sách cấp tỉnh và tổ chức xét duyệt bảo đảm cân đối thu, chi ngân sách của các huyện, thị xã trong tỉnh, từ đó tổng hợp thành ngân sách địa phương. D. Về mẫu biểu và thời hạn gửi dự toán ngân sách lên Bộ Tài chính: Bộ Tài chính quy định và gửi kèm theo đây các mẫu biểu tổng hợp thu, chi ngân sách và một số mẫu biểu tính toán đối với các khoản thu, chi để các Sở Tài chính lập kế hoạch ngân sách năm 1984. Còn đố với các khoản thu, chi khác vẫn lập theo các mẫu đã hướng dẫn tại thông tư số 18- TC/NSNN ngày 4/8/1982 của Bộ Tài chính. Đề nghị Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố và đặc khu chỉ đạo Sở Tài chính, các ngành cấp tỉnh và UBND các quận, huyện khẩn trương lập dự toán ngân sách năm 1984 theo nội dung hướng dẫn trên đây và gửi về Bộ Tài chính để kịp xét tổng hợp trình Hội đồng Bộ trưởng giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho các tỉnh, thành phố, đặc khu triển khai thực hiện theo Nghị quyết cải tiến chế độ phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương vào đầu năm 1984./.