THÔNG TƯ Hướng dẫn thi hành Chỉ thị số 306- CT ngày 29-8-1984 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc chuyển sang bán theo giá kinh doanh thương nghiệp quỹ hàng hoá công nghiệp tiêu dùng dành để đối lưu thu mua nông, lâm, thuỷ sản Tiếp theo thông tư số 33-TC/THVT ngày 26/8/1984 hướng dẫn thi hành điện số 523/CT của Hội đồng Bộ trưởng về việc kiểm kê o giờ ngày 1/9/1984 quỹ hàng công nghiệp tiêu dùng, vật liệu xây dựng dành để đối lưu thu mua nông, lâm thuỷ sản, Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Chỉ thị số 306/CT ngày 29/8/1984 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định chuyển sang bán theo giá kinh doanh thương nghiệp quỹ hàng hoá nói trên như sau: I- XỬ LÝ QUĨ HÀNG CÔNG NGHIỆP TIÊU DÙNG VÀ VẬT LIỆU XÂY DỰNG TỒN KHO O GIỜ NGÀY 1/9/1984 DÀNH ĐỂ ĐỐI LƯU THU MUA LƯƠNG THỰC VÀ CÁC SẢN PHẨM NÔNG, LÂM, THUỶ SẢN. Thời gian qua do trình độ tổ chức và quản lý có một số địa phương, đơn vị cơ sở phân chia được các quĩ hàng hoá để phục vụ cho công tác quản lý. Nhưng đồng thời cũng có một số địa phương, đơn vị cơ sở không phân chia được các quĩ hàng hoá mà thường để chung vào một quĩ hàng hoá. trong trường hợp trên nguyên tắc xác định quĩ hàng hoá tồn kho o giờ 1/9/1984 dành để đối lưu thu mua lương thực và các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản chuyển sang bán theo giá kinh doanh thương nghiệp qui định như sau: 1- Nguyên tắc xác định : a- Nếu địa phương, đơn vị cơ sở nào đã tổ chức quản lý riêng quĩ hàng hoá dùng để đối lưu thu mua hoặc để chung một quĩ nhưng theo dõi và tách riêng được quĩ hàng hoá dành để đối lưu thu mua thì tồn kho o giờ ngày 1/9/1984 chỉ báo cáo tồn kho thuộc quĩ thu mua. b- Nếu địa phương, đơn vị cơ sở nào, nhất là các công ty thương nghiệp do không tổ chức, quản lý, hạch toán riêng nếu không tách được số tồn kho hàng hoá dành để đối lưu thu mua kiểm kê o giờ ngày 1/9/1984, thì phải tính để xác định tồn kho của quĩ thu mua bằng cách lấy tổng số hàng hoá tồn kho chung trừ (-) đi: Hàng hoá để lại bán cung cấp cho công nhân viên chức và lực lượng vũ trang ( đối với các mặt hàng có cung cấp ) và hàng hoá bán cho đối tượng thuộc diện chính sách. Hàng hoá phải trả nợ nông dân hoặc thu mua tiếp do thời vụ dở dang vv... (nếu có). Số tồn đọng còn lại được coi là số tồn kho thuộc quĩ thu mua để xử lý theo hướng dẫn của Thông tư này. 2- Biện pháp xử lý : a- Đối với tồn kho quĩ hàng hoá dành để đối lưu thu mua của các ngành, các đơn vị từ nay không có chức năng quản lý và đối lưu thu mua: Các tổ chức, đơn vị thuộc ngành ngoại thương, lương thực, công nghiệp thực phẩm, y tế, các công ty thu mua của ngành nội thương trước đây làm nhiệm vụ thu mua, có quĩ hàng hoá đối lưu mà từ nay không có nhiệm vụ kinh doanh quĩ này thì được gữi lại một phần tồn kho o giờ 1/9/1984 để trả nợ nông dân (nếu có nợ) và thu mua tiếp (nếu đã ký hợp đồng) do thời vụ dở dang. Riêng ngành thương nghiệp được để vải và dầu lửa để thu mua lợn nghĩa vụ ở các tỉnh phía Bắc theo phương thức cũ cho đến hết năm 1984. Số hàng hoá còn lại các ngành, các đơn vị báo cáo theo biểu số 1(đính kèm thông tư này)và chuyển sang các công ty thương nghiệp để bán theo giá kinh doanh thương nghiệp ; Nếu là đơn vị Trung ương thì chuyển cho Công ty thương nghiệp cấp I; nếu là dơn vị địa phương thì chuyển Công ty thương nghiệp cấp II. Các Công ty thương nghệp cấp I có nhiệm vụ thu mua nông sản và cung ứng quĩ hàng công nghiệp tiêu dùng cho các ngành và địa phương để thu mua phải báo cáo hàng hoá tồn kho o giờ ngày 1/9/1984 và quyết toán quĩ hàng thu mua theo hướng dẫn tại thông ư số 33TC/TNVT ngày 26/8/1984 của Bộ Tài chính và công văn số 1778NT/KTTV ngày 13/9/1984 của Bộ Nội thương. Các Công ty thương nghiệp cấp I có nhiệm vụ thu mua,
sau khi kiểm kê, thanh quyết toán quĩ hàng hoá thu mua phải chuyển số tồn kho còn lại thuộc quĩ này cho công ty cấp I kinh doanh các mặt hàng tương ứng. Các công ty thương nghiệp cấp I cung ứng quĩ hàng công nghiệp tiêu dùng để thu mua phải báo cáo phân chia từng mặt hàng của quĩ này cho từng địa phương, từng ngành trong 6 tháng đầu năm 1984. Báo cáo phải gửi Bộ Tài chính 1 bản (ngoài qui định của Thông tư số 33TC/TNVT). b - Đối với tồn kho quĩ hàng hoá thuộc quĩ thu mua ở các công ty thương nghiệp tỉnh (cấp II) và quận, huyện chuyển sang bán theo giá kinh doanh thương nghiệp. Trừ phần hàng hoá thuộc quĩ thu mua được giữ lại để trả nợ nông dân hoặc thu mua tiếp nếu đã ký hợp đồng như đã nói ở trên, số hàng hoá còn lại của quĩ thu mua phải được chuyển sang bán theo giá kinh doanh thương nghiệp. Các Công ty thương nghiệp tỉnh và quận, huyện có nhiệm vụ tiếp nhận số tồn kho quĩ hàng hoá dành để đối lưu thu mua của các ngành, các đơn vị từ nay không dùng đối lưu thu mua nữa để chuyển sang bán theo giá kinh doanh thương nghiệp và có trách nhiệm nộp đầy đủ khoản chênh lệch giá này cho Ngân sách Nhà nước. II- GIÁ GIAO NHẬN HÀNG HOÁ CỦA QUĨ THU MUA GIỮA CÁC NGÀNH VÀ CÁC ĐƠN VỊ Đơn vị giao có số tồn kho quĩ hàng hoá thuộc quĩ thu mua sang các Công ty thương nghiệp để chuyển sang bán theo giá kinh doanh thương nghiệp được tính giá mua trước đây cộng (+) với một khoản chi phí hợp lý do hai bên thoả thuận. Đơn vị nhận hàng hoá được lấy giá nhận công (+) thêm chiết khấu được hưởng của nhóm, mặt hàng tương ứng đang kinh doanh để hình thành giá đảm bảo kinh doanh. Khoản chênh lệch giữa giá kinh doanh thương nghiệp (sẽ nói ở phần sau) với giá đảm bảo kinh doanh này là chênh lệch I phải nộp ngân sách Nhà nước. Trường hợp hàng hoá kém phẩm chất thì hai bên đánh giá lại chất lượng: Nếu mất phẩm chất thì bên có hàng cần thanh xử lý theo chế độ hiện hành, không chuyển sang ngành thương nghiệp. Nếu kém phẩm chất thì hai bên đánh giá lại tỉ lệ kém phẩm chất và giao theo giá trị còn lại trên cơ sở giá đang hạch toán tồn kho hiện hành. Bên giao phải chịu trách nhiệm và xử lý tổn thất do giảm giá hàng theo chế độ hiện hành. Các cơ quan giao nhận hàng hoá phải lập biên bản về số lượng và giá trị hàng hoá giao nhận để baó cáo các cơ quan chủ quản cấp trên và cơ quan tài chính, ngân hàng cung cấp. Nếu giao nhận giữa các cửa hàng, các trạm trong một đơn vị hạch toán kinh tế là điều chuyển nội bộ, không dặt vấn đề xác dịnh giá giao và chiết khấu thương nghiệp. III- XÁC ĐỊNH CHÊNH LỆCH GIÁ HÀNG HOÁ TỒN KHO KIỂM KÊ O GIỜ NGÀY 1/9/1984 THUỘC QUĨ THU MUA CHUYỂN SANG KINH DOANH THƯƠNG NGHIỆP BÁN THEO GIÁ KINH DOANH THƯƠNG NGHIỆP. 1- Chênh lệch giá I : Đối với hàng hoá tồn kho 0 giờ ngày1/9/1984 tại địa phương khi Trung ương chưa kịp chỉ đạo giá kinh doanh thương nghiệp (đối với mặt hàng do Trung ương định giá) nếu
xét thật cần thiết bán ra để đáp ứng nhu cầu thị trường thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu quyết định cụ thể giá kinh doanh thương nghiệp. Khoản chênh lệch giữa giá kinh doanh thương nghiệp (giá lẻ mới)với giá bán lẻ đang hạch toán tồn kho ngày 1/9/1984 gọi là chênh lệch giá 1. ví dụ : a/ Đối với hàng hoá thuộc quỹ thu mua của các đơn vị thương nghiệp đang quản lý nay chuyển sang bán theo giá kinh doanh thương nghiệp. Lốp sao vàng loại 1 giá lẻ Nhà nước 90đ/chiếc. Giá kinh doanh thương nghiệp (giá lẻ mới) 200đ/chiếc. Chênh lệch giá 1 là: 200đ-90đ=120đ b- Đối với hàng hoá thuộc quĩ thu mua của các ngành, các đơn vị khác bàn giao sang: Lốp sao vàng loại 1: giá lẻ Nhà nước 90đ - Đơn vị thu mua trước đây mua 85đ, được hưởng chiết khấu 5đ (các số chiết khấu trong ví dụ là số giả định) - Nay 2 bên giao nhận thoả thuận, đơn vị giao được hưởng chi phí hợp lý là 4đ. Vậy giá giao là 85đ+4đ= 89đ. - Chiết khấu mặt hàng này của đơn vị nhận là 6đ vậy giá đảm bảo kinh doanh của đơn vị nhận là 89đ+6đ= 95đ(nếu đơn vị nhận là công ty thương nghiệp cấp 1 thì được cộng chiết khấu toàn ngành, nếu là công ty thương nghiệp cấp II được cộng chiết khấu tỉnh và huyện, nếu là công ty huyện hì chỉ được cộng của công ty huyện). - Giá kinh doanh thương nghiệp :200đ Chênh lệch giá 1 được định mức là : 200đ- 95đ= 105đ c- Trường hợp hàng Trung ương giao giácao hay địa phương tự chạy, không có giá lẻ Nhà nước, thì giá bán trước đây là giá đảm bảo kinh doanh. Giá đảm bảo kinh doanh bằng giá mua cộng (%) chiết khấu thương nghiệp. Trường hợp này chênh lệch giá 1 là khoản chênh lệch giữa giá kinh doanh thương nghiệp và giá đảm bảo kinh doanh. Các khoản chênh lệch I nói ở điểm a, b, c phải nộp ngân sách Nhà nước quy định như sau: - Nếu là hàng của Trung ương đưa về thì nộp ngân sách Trung ương 50%, ngân sách địa phương 10%. - Nếu là hàng của địa phương thì phân phối số nộp giữa ngân sách Trung ương và địa phương như khoản chênh lệch giá của xí nghiệp địa phương quy định tại Nghị quyết số 138/HĐBT và thông tư hướng dẫn thi hành Nghị quyết này của Bộ Tài chính. - Nếu là hàng không phân biệt của cấp nào thì nộp ngân sách Trung ương 50%, ngân sách địa phương 50%. Việc quy định tỷ lệ điều tiết khoản thu chênh lệch giá giữa ngân sách tỉnh, thành phố, đặc khu với ngân sách các quận, huyện do UBND qui định và Sở Tài chính hướng dẫn thực hiện. Khi các đơn vị thương nghiệp bán được hàng thu được tiền phải kê khai nộp đủ 10% chênh lệch giá vào ngân sách Nhà nước theo hướng dẫn trên. 2/ Chênh lệch giá II : Theo chỉ thị số 306/CT ngày 29/8/1984 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, từ nay Trung ương qui định giá kinh doanh thương nghiệp với 3 hình thức: - Có loại mặt hàng qui định một mức giá thống nhất cho cả nước hoặc từng tháng. - Có loại mặt hàng qui định khung giá tối da tối thiểu. - Có loại mặt hàng chỉ qui định mức giá tối thiểu. Tuỳ tình hình giá cả ở từng địa phương, UBND tỉnh, thành phố, đặc khu có thể qui định giá bán cao hơn giá kinh doanh thương nghiệp của Trung ương (trừ loại qui định thống nhất bán một giá). Trong trường hợp này, khoản chênh lệch giữa giá bán thực tế với giá kinh doanh thương nghiệp do Trung ương qui định là chênh lệch giá II. Khoản chênh lệch này được phân phối giữa 2 cấp ngân sách Trung ương và địa phương như khoản chênh lệch giá của xí nghiệp địa phương theo qui định tại Nghị quyết số 138/HĐBT và Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính. Ví dụ : - Giá kinh doanh thương nghiệp Nhà nước qui định lốp sao vàng loại I: 200đ - Địa phuơng qui định cụ thể bán ra : 220đ - Chênh lệch II= 220đ- 200đ = 20đ Trong trường hợp hàng tồn kho tại địa phương thuộc loại do Trung ương định giá, trong khi chờ đợi giá mới, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố đặc khu có thể tạm qui định giá /bán ra kịp thời, sau đó mới nhận quyết định giá của Trung ương thì phải tồn kho còn lại giải quyết như sau: a- Đối với các mặt hàng đang thuộc diện thống nhất giá, địa phương cần điều chỉnh lại giá theo qui định của Trung ương. b- Đối với các mặt hàng Trung ương qui định giá tối thiểu, hoặc khung giá tối đa, tối thiểu thì: - Nếu địa phương qui định giá thấp hơn giá tối thiểu, phải điều chỉnh lên ít nhất bằng giá tối thiểu. - Nếu địa phương qui định giá cao hơn giá tối thiểu thì chênh lệch giữa giá với giá tối thiểu là khoản chênh lệch giá cấp II và nộp ngân sách các cấp theo nguyên tắc phân phối nói trên. Các cơ quan chủ quản cấp trên cần chuyển hướng dần đơn vị trực thuộc phân biệt hàng của trung ương về, hàng của tỉnh, hàng của huyện trong tồn kho thuộc quĩ thu mua. Trường hợp không phân biệt được mới ghi vào cột cuối cùng của biểu số 1 đính kèm thông tư này. Các đơn vị cần báo cáo gấp, theo biểu số 1 đính kèm, gửi các cơ qan chủ quản cấp trên và cơ quan tài chính cùng cấp, chậm nhất là ngày 15/11/1984. Các ngành, địa phương tổng hợp báo cáo Hội đồng Bộ trưởng, đồng gửi Bộ Tài chính, Bộ Nội thương chậm nhất là ngày 30/11/1984. Sở Tài chính ngoài việc tổng hợp báo cáo theo biểu số 1, cần phối hợp với Sở Thương nghiệp căn cứ vào giá kinh doanh thương nghiệp do các cấp qui định dự kiến khoản chênh lệch giá của số hàng thuộc quĩ thu mua chuyển sang bán theo giá kinh doanh thương nghiệp cho các cấp ngân sách đẻ lập biểu số 2 và báo cáo Bộ Tài chính chậm nhất là ngày 30/11/1984; đồng thời đôn đốc thu nộp kịp thời các khoản chênh lệch giá nói trên vào các cấp ngân sách. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc cần phản ánh kịp thời cho Bộ Tài chính biết để nghiên cứu hướng dẫn bổ sung./.