THÔNG TƯ Hướng dẫn về việc quản lý vốn lưu động xí nghiệp công nghiệp theo Nghị quyết số 156-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng. Nhằm đảm bảo quyền tự chủ tài chính của xí nghiệp, tạo điều kiện cho xí nghiệp phát huy quyền chủ động, đồng thời thúc đẩy xí nghiệp chăm lo đến việc sử dụng vốn một cách tiết kiệm, tăng nhanh vòng quay, phấn đấu giảm giá thành, tăng lợi nhuận để có thêm nguồn bổ sung, vốn lưu động, đảm bảo cho xí nghiệp trên cơ sở số vốn ngân sách cấp ban đầu có thể tự tạo ra nguồn vốn của mình
căn cứ vào nghị quyết 156/HĐBT ngày 30/11/1984 của Hội đồng Bộ trưởng, Bộ tài chính hướng dẫn cụ thể một số vấn đề quản lý vốn lưu động của các xí nghiệp công nghiệp sau: 1- Vốn lưu động của xí nghiệp được hình thành từ hai nguồn: a) Vốn lưu động tự có và coi như tự có. b) Vốn lưu động vay của Ngân hàng Nhà nước. Vốn lưu động tự có và coi như tự có bao gồm: - Vốn cấp phát ban đầu của Ngân sách Nhà nước. - Vốn trích từ quĩ khuyến khích phát triển sản xuất để bổ sung vốn lưu động hàng năm. - Các khoản nợ định mức như lợi nhuận và khấu hao cơ bản phải nộp nhưng chưa đến hạn nộp, tiền công trả lương cho nhân viên nhưng chưa đến hạn trả... - Các khoản vốn tự có khác như giá trị vật tư, thành phẩm thừa
sau khi kiểm kê, giá trị công cụ lao động thuộc tài sản lưu động mới tăng thêm do thay đổi tiêu chuẩn tài sản cố định... 2- Khi các xí nghiệp mới đưa vào sản xuất, Nhà nước cấp 50% vốn lưu động định mức kế hoạch, còn lại xí nghiệp vay Ngân hàng 3- Đối với những xí nghiệp đã đưa vào sản xuất, căn cứ vào nhiệm vụ sản xuất được giao 1985, các Bộ, Tổng cục và địa phương chỉ đạo các xí nghiệp trực thuộc tiến hành xác định lại định mức vốn lưu động, trên cơ sở những mức kinh tế kỹ thuật phù hợp với tình hình sản xuất, cung cấp vật tư và giá cả hiện hành. Bộ Tài chính cùng với Ngân hàng Nhà nước tỉnh và Sở chủ quản xét duyệt định mức cho các xí nghiệp địa phương.
Căn cứ vào định mức vốn lưu động được duyệt cho năm 1985 nếu số thực có về vốn lưu động tự có và coi như tự có tính đến ngày 31/12/1984 của xí nghiệp không đủ 50% định mức thì Ngân hàng Nhà nước sẽ cấp vốn cho đủ, nếu thừa thì xí nghiệp nộp ngân sách Nhà nước. Khi xác định số thực có về vốn lưu động tự có và coi như tự có tính đến ngày 31/12/1984 để xác định số vốn lưu động thiếu hoặc thừa, xí nghiệp được loại trừ số vốn Ngân sách nhà nước đã cấp phát trước đây để dự trữ vật tư ứ đọng. 4-
Sau khi vốn lưu động tự có và coi như tự có được đảm bảo 50% định mức vốn lưu động như đã nói ở điều 3, hang năm (kể từ năm 1985 trở đi) xí nghiệp được trích một phần quỹ khuyến khích phát triển sản xuất để bổ sung vốn lưu động định mức. Mức độ trích vốn lưu động định mức do xí nghiệp tự quyết định, đảm bảo sao cho tiền vốn được sử dụng có hiệu quả nhất. Số tiền trích từ quĩ khuyến khích phát triển sản xuất để bổ sung vốn lưu động định mức xí nghiệp được hạch toán vào một tài khoản riêng. 5- Từ năm 1986 trở đi, khi kế hoạch sản xuất, cung ứng vật tư, giá cả.. Biến động không lớn (nhu cầu vốn lưu động định mức kế hoạch tăng, giảm 30% so với năm trước), nếu vốn lưu động tự có và coi như tự có của xí nghiệp thừa thì Nhà nước không thu về, không đủ thì xí nghiệp được cơ quan chủ quản cấp trên trích quỹ dự trữ tài chính của mình để trợ cấp tạm thời trên nguyên tắc hoàn trả, nếu thiếu nữa thì xí nghiệp vay ngân hàng. Trường hợp kế hoạch sản xuất, cung ứng vật tư, giá cả... biến động lớn (nhu cầu vốn định mức kế hoạch tăng (giảm) từ 30% trở lên so với năm trước), cơ quan tài chính Ngân hàng và chủ quản sẽ xác định lại vốn cho xí nghiệp. Nếu số thực có về vốn lưu động tự có và coi như tự có tính đến ngày 01/01 năm kế hoạch không đủ 50% định mức được duyệt thì Ngân sách Nhà nước sẽ cấp thêm cho đủ, ngược lại nếu cao hơn 50% định mức được duyệt thì ngân sách Nhà nước sẽ cấp thêm cho đủ, ngược lại nếu cao hơn 50% định mức thì xí nghiệp phải nộp ngân sách số vốn lưu động thừa. Số thực có về vốn lưu động tự có và coi như tự có tính đến ngày 01/01 năm kế hoạch bằng (=) vốn ngân sách đã cấp phát cộng (+) tổng số vố đã trích từ quĩ khuyến khích phát triển sản xuất để bổ sung vốn lưu động, cộng (+) nợ định mức kế hoạch. 6-
Sau khi kế hoạch tài chính của xí nghiệp được duyệt xí nghiệp cùng với cơ quan tài chính xác định lịch trình cấp vốn lưu động trong năm. Trên cơ sở lịch trình này, căn cứ vào nhu cầu vốn phát sinh xí nghiệp làm thủ tục cấp phát. Trong thời gian một tháng kể từ khi nhận được giấy đề nghị cấp phát của xí nghiệp, cơ quan tài chính có trách nhiệm cấp cho xí nghiệp số vốn lưu động cần cấp phát. Trường hợp cấp chậm nên xí nghiệp thiếu vốn phải vay Ngân hàng thì xí nghiệp được trừ số tiền trả về lãi vay Ngân hàng vào phần lợi nhuận xí nghiệp phải nộp ngân sách. 7- Trường hợp mặt bằng giá vật tư sản phẩm thay đổi theo các quyết định của các cơ quan có thẩm quyền, xí nghiệp phải tiến hành kiểm kê vật tư sản phẩm tồn kho tính theo giá cũ và giá mới (trong đó tính nguyên phần vật tư ứ đọng). Trong tổng số vật tư sản phẩm tính theo giá cũ, phải xác định rõ tỷ trọng các phần vốn hình thành nên số vật tư sản phẩm tồn kho: a) Vốn cấp phát của Ngân sách. b) Vốn vay Ngân hàng. c) Vốn chiếm dụng của ngân sách và khách hàng. d) Vốn đã trích từ quỹ khuyến khích phát triển sản xuất để ổ sung vốn lưu động và các nguồn vốn lưu động còn lại khác. Trên cơ sở tổng số chênh lệch giá vật tư sản hẩm tồn kho và tỷ trọng của từng phần vốn nói trên tính ra số chênh lệch giá để ghi tăng (hoặc giảm) vốn cho từng phần tương ứng (riêng chênh lệch giá của số vật tư sản phẩm hình thành bằng vốn chiếm dụng của khách hàng thì nộp Ngân sách một nửa, nộp Ngân hàng một nửa). Ví dụ: - Kết quả kiểm kê vật tư sản phẩm tồn kho (không kể vật tư ứ đọng) tính theo giá cũ và giá mới như sau: + Tính theo giá cũ : 120 triệu + Tính theo giá mới : 150 triệu + Chênh lệch giá mới và giá cũ : 30 triệu - Tính đến ngáy áp dụng giá mới, tổng số tiền ngân sách đã cấp là 42 triệu, Ngân hàng sẽ cho xí nghiệp vay là 60 triệu (không kể số vốn của ngân sách và Ngân hàng dùng để dự trữ vật tư ứ đọng), vốn chiếm dụng của khách là 12 triệu, số vốn trích từ quỹ khuyến khích phát triển sản xuất để bổ sung vốn lưu động và các nguồn vốn lưu động còn lại khác dùng để dự trữ vật tư sản phẩm là 6 triệu. - Tỷ trọng từng nguồn vốn của vật tư sản phẩm tồn kho tính theo giá cũ: + Vốn của ngân sách cấp: 42 tr x 100 120 tr =35% + Vốn vay ngân hàng: 60 tr x 100 120 tr = 50% + Vốn chiếm dụng của Ngân sách và khách hàng: 12 tr x 100 120 tr = 10% + Vốn đã trích từ quỹ khuyến khích phát triển sản xuất để bổ sung vốn lưu động và các nguồn vốn lưu động còn lại khác: 6 tr x 100 120 tr = 5% - Số chênh lệch giá: + Ghi tăng vốn ngân sách (bao gồm 1/2 số chênh lệch giá thuộc phần vốn chiếm dụng của ngân sách và khách hàng): (39% x 30tr) + ( 10% x 30tr) = 19,5 tr + 1,5tr = 12 tr. 2 + Ghi tăng vốn vay Ngân hàng (bao gồm 1/2 số chênh lệch giá thuộc phần vốn chiếm dụng của ngân sách và ngân hàng): (50% x 30tr) + (10% x 30tr) 2 = 15tr + 1,5tr = 16,5tr. + Ghi trăng vốn trích từ quỹ khuyến khích phát triển sản xuất để bổ sung vốn vốn lưu động và các nguồn lưu động còn lại khác: 5% x 30tr = 1,5 tr Việc ghi tăng vốn của ngân sách, Ngân hàng về phần vật tư ứ đọng tính tương tự như ghi tăng vốn của phần vật tư sản phẩm thông thường nói trên. Trường hợp giảm giá vật tư sản phẩm, việc ghi giảm vốn của ngân sách, ngân hàng và xí nghiệp cũng tính tương tự theo cách nói trên. 8- Việc cấp phát và giải quyết vốn cho vật tư ứ đọng, chậm luân chuyển vẫn tiếp tục thực hiện theo thông tư số 64/TC ngày 09/03/1983 của Hội đồng Bộ trưởng và thông tư hướng dẫn số 14 TC/THVT ngày 13/05/1983 của Bộ Tài chính. 9- Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1985. Tất cả những quy định trước đây trái với thông tư này đều bãi bỏ./.