THÔNG TƯ Hướng dẫn thực hiện quyết định số 179/TC/QĐ/BH về bảo hiểm tài thuyền đánh cá Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 179/TC/QĐ/BH ngày 08 tháng 7 năm 1986 cho phép Công ty Bảo hiểm Việt Nam tiến hành bảo hiểm theo nguyên tắc tự nguyên đối với tàu thuyền đánh cá của ngành thuỷ sản; nay Bộ Tài chính hướng dẫn về nguồn vốn và hạch toán chi phí bảo hiểm tài thuyền đánh cá như sau: 1/ Tàu thuyền đánh cá và thuyền viên mua bảo hiểm theo nguyên tắc tự nguyện phải chấp hành quy tắc tính phí bảo hiểm theo biểu phí bảo hiểm của Quyết định số 179/TC/QĐ/BH ngày 08 tháng 07 năm 1986 nói trên. 2/ Giá trị của tàu thuyền dể tính phí bảo hiểm là giá trị ghi trong sổ sách kế toán để tính khấu hao của năm kế hoạch. Giá trị của lưới để tính phí bảo hiểm là giá trị của số lưới trên tàu theo định mức nhân (x) đơn giá và được phân bổ vào giá thành cá đánh bắt của năm kế hoạch, cụ thể: Giá trị lưới tính bảo hiểm = Số lưới định mức theo tàu x đơn giá Số sợi kèm theo lưới cũng tính định mức, được duyệt nhân ( x) đơn giá. Tổng giá trị của lưới và sợi kèm theo lưới nói trên là giá trị dùng để tính phí bảo hiểm. Giá trị tàu thuyền, lưới sợi nói ở trên là cơ sở để các đơn vị sản xuất kinh doanh và sự nghiệp ký hợp đồng với Công ty Bảo Hiểm Việt Nam và tính mức phí bảo hiểm. 3/ Hàng năm, các đơn vị Quốc doanh
căn cứ vào hợp đồng bảo hiểmđã ký để lập kế hoạch giá thành trình Bộ chủ quản (nếu là xí nghiệp trung ương) và Uỷ ban nhân dân tỉnh (nếu là xí nghiệp địa phương) duyệt. Phí bảo hiểm đối với thân tàu thuyền đánh cá; Ngư lưới cụ và trang thiết bị đánh bắt thuỷ sản; trách nhiệm dân sự của chủ tàu thuyền; rủi ro chiến tranh đối với tàu thuyền đánh cá được hạch toán vào giá thành sản phẩm trong khoản mục chi phí quản lý xí nghiệp . 4/ Đối với khu vực tập thể và cá thể, phí mua bảo hiểm được từ doàh thu bán hàng của đơn vị hoặc cá nhân. 5/ Phí bảo hiểm đối với tai nạn thuyền viên, tuỳ từngđơn vị (xí nghiệp , hợp tác xã, tập đoàn sản xuất,...) có thể trích một phần quỹ phúc lợi hoặc quỹ công ích để trợ giúp thuyền viên toàn bộ hoặc một phần, hoặc cá nhân thuyền viên phải tự lo. 6/ Những đơn vị sự nghiệp (các viện nghiên cứu, các trường...) nếu có mua bảo hiểm cho tàu thuyền nghiên cứu thuỷ sản và tàu thuyền cho sinh viên thực tập, thì hàng năm đợn vị phải tính thành một mục riêng trong dự toán kinh phí của đơn vị trình Bộ chủ quản duyệt. Cuối năm cũng phải riêng mục phí bảo hiểm như các mục khác của đơn vị. 7/ Những tổn thất xảy ra nếu đã được công ty bảo hiểm đền bù thì xí nghiệp không được hạch toán vào giá thành lần nữa, không được trừ vào lợi nhuận xí nghiệp, hoặc tăng lỗ, hoặc giảm vốn xí nghiệp. 8/ Việc tăng giảm tỷ lệ phần trăm (%) mức phí gốc đối với từng địa phương sẽ do công ty bảo hiểm Việt nam và địa phương thoả thuận cụ thể khi ký hợp đồng. 9/ Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 08 năm 1986