THÔNG TƯ LIÊN BỘ Hướng dẫn thực hiện quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về giá gia công, giá thu mua sản phẩm tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp.
Căn cứ vào quyết định số 263/ Công ty ngày 16 - 10 - 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về giá gia công, giá thu mua sản phẩm tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp
sau khi trao đổi với Bộ Lao động, Liên hiệp xã thủ công nghiệp Việt Nam và các ngành có liên quan, Liên Bộ Vật giá - Tài chính hướng dẫn thực hiện như sau: I. NGUYÊN TẮC XÁC ĐỊNH GIÁ GIA CÔNG, GIÁ THU MUA SẢN PHẨM TIỂU, THỦ CÔNG NGHIỆP. Việc xác định giá gia công, giá thu mua sản phẩm tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp phải đáp ứng hai yêu cầu: - Một là, tính đủ, tính đúng các yếu tố chi phí theo các định mức xã hội cần thiết về tiêu hao lao động, vật tư do cơ quan có thẩm quyền duyệt, bảo đảm cho người sản xuất bù đắp chi phí thực tế hợp lý, có lợi nhuận thoả đán, Nhà nước từng bước có tích luỹ. - Hai là, bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng, thúc đẩy các cơ sở sản xuất (sau đây gọi tắt là hợp tác xã) thường xuyên cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm, phấn đấu tăng năng suất, hạ giá thành để có giá bán hợp lý được người tiêu dùng thừa nhận. II. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁO XÁC ĐỊNH GIÁ GIÁ CÔNG , GIÁ THU MUA SẢN PHẨM TIỂU, THỦ CÔNG NGHIỆP: Giá giá công , giá thu mua sản phẩm tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp được tính đúng, tính đủ các chi phí sản xuất có liên quan đến quá trình sản xuất ra sản phẩm. Những khoản chi phí không hợp lý, không hợp lệ không được tính vào giá giá công , giá thu mua. Những yếu tố chi phí và các bộ phận cấu thành giá giá công , giá thu mua được quy định như sau: A. Yếu tố chi phí (để tính giá thành) 1. Chi phí về nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu... được xác định trên cơ sở định mức và giá cả: a. Định mức vật tư: được tính theo các định mức trun bìhn tiền tiến của ngành đã đạt được trong thời kỳ sản xuất tương đối ổn định và phải được cấp có thẩm quyền xét duyệt. Đối với những vật tư quan trọng do Nhà nước thống nhất quản lý thì thực hiện theo quy định trong Nghị định số 201/CP ngày 26-5-1981 của Hội đồng Chính phủ và Quyết định số 038/UB-ĐM ngày 04-01-1986 của Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước ; với định mức này nếu hợp tác xã do trình độ trang bị thấp hơn quốc doanh hoặc do những điều kiện khác mà không thực hiện được thì phải giải trình rõ trong phương án giá trình cơ quan có thẩm quyền xét duyệt. Đối với vật tư khác tính theo định mức do các Bộ, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là tỉnh) hoặc cơ quan được uỷ quyền quyết định. Định mức vật tư dùng đẻ tính giá giá công, giá thu mua được áp dụng một mức thống nhất, không phân biệt là vật tư do Nhà nước cung ứng hay hợp tác xã tự cân đối bổ sung nếu quy cách, phẩm chất của loại vật tư đó tương đương nhau. b. Đơn giá vật tư để tính giá thành được xác định phân biệt theo nguồn vật tư dựa vào sản xuất. - Vật tư do Nhà nước cung ứng tính theo giá chỉ đạo do cơ quan có thẩm quyền quyết định. Trường hợp chưa có giá chỉ đạo thì được tính theo giá tạm tính. Giá tạm tính chỉ có hiệu lực tối đa là 30 ngày; trong thời hạn này bên cung ứng vật tư (bên đặt hàng) phải kịp thời lập phương án giá vật tư trình cơ quan có thẩm quyền xét duyệt. Khi có giá vật tư chính thức hợp tác xã và bên đặt hàng phải thanh toán lại theo giá của cấp có thẩm quyền quy định. - Vật tư do đơn vị tự kiếm: + Đối với nguyên liệu là nông, lâm, hải sản... hợp tác xã được phép mua trực tiếp của người sản xuất thì được tính vào giá giá công , giá thu mua theo giá thu mua trong khung giá của địa phương chỉ đạo cộng (+) chi phí thu mua hợp lý. Hợp tác xã có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh chính sách giá do địa phương quy định. + Đối với vật tư do hợp tác xã tự bố trí xã viên đi khai thác thì được tính vào giá giá công , giá thu mua theo chi phí thực tế hợp lý khai thác và có lãi thoả đáng trên cơ sở hiệu quả mang lại của vật tư sản xuất, khai thác vật tư. Mức giá cụ thể phải được bên đặt hàng chấp nhận. + Đối với vật tư do hợp tác xã đưa gia công với các cơ sở sản xuất khác thì ngoài phần chi phí nguyên liệu còn tính thêm chi phí gia công theo giá giá công do các cơ quan có thẩm quyền quyết định. + Đối với vật tư do hợp tác xã tự cân đối, thông qua các hình thức liên kết kinh tế thì được tính vào giá giá công , giá thu mua theo giá hoặc giá trong khung giá do cơ quan quản lý giá có thẩm quyền quyết định. Việc xác định giá đối với những vật tư này phải căn cứ vào tính chất của từng loại vật tư, nguồn cung ứng vật tư và phương thức liên kết kinh tế để quy định theo đúng tinh thần Quyết định số 162/HĐBT ngày 14-12-1984 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức hoạt động liên kết trong kinh tế. + Đối với vật tư tồn kho, ứ đọng, chậm luân chuỷen... hợp tác xã mua của các xí nghiệp quốc doanh hoặc cơ quan khác thì được tính vào giá giá công , giá thu mua theo nguyên tắc tính giá trong Thông tư Liên Bộ số 15/VGNN-TC-TT ngày 15/8/1986 của Uỷ ban Vật giá Nhà nước và Bộ Tài chính. + Vật tư là phiếu liệu, phế phẩm trong danh mục do Nhà nước thống nhất quản lý, hợp tác xã mua trực tiếp của xí nghiệp quốc doanh hoặc nhận của cơ quan cung ứng vật tư theo kế hoạch thì tính vào giá giá công , giá thu mua theo giá chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền quyết định. Các loại phế liệu, phế phẩm khac sdo hợp tác xã tự kiếm tính theo giá thực mua trong khung giá (nếu có) của địa phương. c. Chi phí vận chuyển và xếp dỡ vật tư tính theo giá cước chỉ đạo của Nhà nước (bao gồm giá do trung ương và địa phương chỉ đạo). Nếu cơ sở tự vận chuyển, xếp dỡ hoặc thuê phương tiện của tư nhân thì tính theo giá cước địa phương qui định hoặc hướng dẫn. 2. Chi phí khấu hao (cơ bản và sửa chữa lớn) tài sản cố định tính trong giá giá công, giá thu mua bao gồm: - Khấu hao nhà cửa, thiết bị... trực tiếp phục vụ sản xuất. - Khấu hao nhà cửa, công trình phục vụ quản lý (bao gồm cả công trình phúc lợi công cộng tại hợp tác xã). Trong khi chưa tiến hành tổng kiểm kê và đánh giá lại tài sản cố định đối với khu vực tiểu, thủ công nghiệp; trước mắt tạm thời quy định như sau: a. Tài sản cố định có trước ngày 01-10-1985 thì vận dụng tinh thần Thông tư Liên Bộ số 22/LB-TT ngày 4-10-1985 của Uỷ ban Vật giá Nhà nước, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước , Bộ Tài chính. Cụ thể là: khấu hao cơ bản tăng 5 lần, khấu hao sửa chữa lớn tăng 7 đến 9 lần so với mức khấu hao đã tính trong giá trước ngày 01-10-1985. Trường hợp đặc biệt có thể tính khấu hao cơ bản theo giá trị tài sản cố định tăng lên 10 lần so voứi giá trị tài sản cố định đang ghi trong sổ sách của hợp tác xã nhưng do tác động của việc tính khấu hao như trên đến giá thu mua, gia công nên phải được khách hàng chấp thuận. b. Tài sản cố định mua sắm sau ngày 01/10/1985 thì tính như sau: - Nguyên giá tài sản cố định tính theo giá thực mua do Nhà nước quy định. Nếu là tài sản xuấtả tự trang tự chế thì tính theo giá bù đắp đủ chi phí thực tế hợp lý và có lãi cho hợp tác xã. - Tỷ lệ khấu hao được tính theo quy định trên mà khấu hao tính theo giá quá cao làm cho giá thu mua, giá giá công (có tính thêm cả chi phí nguyên liệu) vượt quá giá chỉ đạo của Nhà nước (giá bán lẻ, giá bán buôn vật tư) thì hợp tác xã tự quyết định lấy hình thức khấu hao thích hợp để khách hàng chấp nhận mua sản phẩm cho hợp tác xã sản xuất, bảo đảm cho sản xuất kinh doanh được bình thường. Uỷ ban nhân dân tính căn cứ vào quy định trên hướng dẫn mức khấu hao tính trong giá giá công , giá thu mua cho hợp lý đối với từng loại sản phẩm và hướng dẫn việc xử lý chi phí khấu hao trong trường hợp vượt giá chỉ dạo của Nhà nước. 3. Tiểu công và các khoản phụ cấp có tính chất tiền công được tính tron gf, giá thu mua bao gồm tiền công của xã viên trực tiếp sản xuất; tiền công của xã viên làm công tác cung ứng vật tư, thủ kho, bảo vệ...; tiền công của xã viên làm công tác quản lý. Nguyên tắc xác định tiền công và các khoản phụ cấp có tính chất tiền công được quy định như sau: a. Định mức lao động : tính theo các định mức trung bình tiền tiến (định mức đã đạt được trong thời kỳ sản xuất tương đối ổn định) do cấp có thẩm quyền xét duyệt (tính theo ngày, giờ công Nhà nước quy định; ngày công trong tháng là 24,5 công; giờ công trong ngày là 8 giờ). Đối với những sản phẩm chưa có định mức lao động hoặc chưa đủ các định mức cho các nguyên công thì hợp tác xã tự khảo sát, xây dựng định mức lao động trình cơ quan có thẩm quyền xét duyệt theo sự phân cấp của Nhà nước. Nếu cơ quan có thẩm quyền chưa phê chuẩn thì giải trình rõ tròng phương áp giá. b. Đơn giá tiền công của đơn vị sản phẩm được xây dựng trên cơ sở định mức lao động và vận dụng chế độ tiền lương của công nhân viên chức Nhà nước. Nội dung của đơn giá tiền công gồm: - Tiền công chính của xã viên được tính tương đương với lương cơ bản như công nhân quốc doanh cùng ngành nghề. - Các loại phụ cấp có tính chất bổ sung thêm vào tiền công chính được ghéo tính vào giá sản phẩm như: phụ cấp khu vực, phụ cấp chênh lệch giá sinh hoạt theo vùng, phụ cấp độc hại, khó khăn nguy hiểm, phụ cấp làm đêm... (đối với những ngành nghề được hưởng). - Tiền thưởng từ quỹ lương và tỷ lệ khuyến khích lương sản phẩm. - Chi phí bữa ăn giữa ca, bữa ăn ca đêm. - Bù giá 6 mặt hàng tiêu dùng thiết yếu. c. Nguyên tắc xác định chi phí bữa ăn giữa ca, ca đêm và bù giá hàng tiêu dùng thiết yếu được quy định như sau: + Chi phí bữa ăn giữa ca, bữa ăn ca đêm (đối với hợp tác xã phải làm đêm) vận dụng theo tinh thần Chỉ thị số 305/Công ty này 05-12-1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng: Bữa ăn giữa ca là .. đồng/suất, bữa ăn bồi dưỡng ca đêm đựoc xác định theo nguyên tắc bảo đảm tiêu chuẩn định lượng (lương thực 150g/suất, thịt 40g/suất, rau xanh 200g/suất). Giá lương thực, thực phẩm... được tính theo giá kinh doanh thương nghiệp tại địa phương. Mức cụ thể do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định theo sự hướng dẫn của Bộ Lao động. + Bù giá 6 mặt hàng tiêu dùng thiết yếu: được xác định theo nguyên tắc bảo đảm cho thợ thủ công ó đủ tiền để mua hiện vật theo tiêu chuẩn định lượng tương đương với công nhân quốc doanh (đã được quy định trong quyết định số 122/HĐBT ngày 04-10-1986 của Hội đồng Bộ trưởng) với giá kinh doanh thương nghiệp tại địa phương. Mức bù giá 6 mặt hàng thiết yếu bán theo định lượng được tính trong giá gia công; giá thu mua là phần chênh lệch giữa giá bán lẻ ổn định quy định trong quyết định số 42a/ HĐBT ngày 15 - 4- 1986 và giá kinh doanh thương nghiệp. Giá kinh doanh thương nghiệp do Uỷ ban nhân dân tỉnh đề nghị. Uỷ ban vật giá Nhà nước và các Bộ có liên quan trao đổi Thường vụ Hội đồng bộ trưởng xét duyệt. Theo nguyên tắc trên, trước mắt, tạm thời quy định như sau: 1. Đối với lương thực, tinh thần chung là cố gắng bảo đảm bán cho thợ thủ công theo định lượng (tương đương với phần sản phẩm theo hợp đồng kinh tế) với giá bán lẻ trong quyết định 42a - HĐBT ngày 15 - 4 - 1986 của Hội đồng Bộ trưởng và do đó trong giá gia công, giá thu mua không có khoản đền bù giá về lương thực. Địa phương nào bán lương thực cho thợ thủ công theo giá bán lẻ kinh doanh thương nghiệp thì phải lấy phần thu chênh lệch giữa giá bán lẻ kinh doanh thơng nghiệp với giá bán lẻ chỉ đạo trong quyết định số 42a/ HĐBT để bù cho thợ thủ công theo nguyên tắc đã nêu trên; nhất thiết không được tính vào giá giá thu mua, giá gia công. 2. Đối với các mặt hàng khác (thịt, đường, nước chấm, chất đốt, xà phòng) do lực lượng hàng hoá có khó khăn, các địa phương bán cho thợ thủ công theo giá bán lẻ kinh doanh thương nghiệp thì được tính phần chênh lệch giữa giá kinh doanh thương nghiệp với gí bán lẻ ổn định trong quyết định số 42a/ HĐBT, theo định lượng tương đương với công nhân quốc doanh cùng ngành cùng nghề tại địa phương quy định trong quyết định số 122 HĐBT ngày 4/10/1986 của Hội đòng bộ trưởng đưa vào giá giá công hoặc giá thu mua. Uỷ ban Nhân dân tỉnh căn cứ vào sự hướng dẫn trên đây để tính và quy định mức bù giá vào tiền công cho thợ thủ công, đồng thời thông báo cho Uỷ ban Vật giá Nhà nước, Bộ Tài chính và các bộ gia công đặt hàng biết. 4. Bảo hiểm xã hội được tính bằng 6% trên tổng tiền công (không bao gồm tiền bù giá) tương đương như chế độ baỏ hiểm của công nhân quốc doanh. 5. Chi phí bảo hộ lao đọng: đối với những ngành nghề được hưởng chế độ bảo hộ lao động thì được tính theo nguyên tắc bảo đảm định lượng hiện vật, về đơn giá tính theo giá bán lẻ tại địa phương do Bộ Nội thương hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định. 6. Lãi vay ngân hàng: đối với những sản phẩm được thực hiện theo phương thức bán nguyên liệu thu mua thành phẩm, hợp tác xã có kế hoạch vay ngân hàng và được ngân hàng chấp nhận thì lãi vay ngân hàng được tính thành một yếu tố chi phí riêng trong giá gia công, giá thu mua . Tỷ lệ lãi vay ngân hàng được tính theo quy đinh trong quyết định số 139/NH - QĐ ngày 14 - 10 - 1986 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tiền lãi vay ngân hàng tính trong giá gia công, giá thu mua phải được xác định trên cơ sở định mức vốn lưu động hợp lý và phải trừ tiền lãi thu ddược của tiền gửi hoặc vốn ứng trước của khách hàng gửi vào ngân hàng. Trường hợp ngân hàng không đáp ứng được yêu cầu vốn tín dụng (có xác nhận của ngân hàng), hợp tác xã phải huy động vay vốn của xã viên thì phần lãi vay này cũng được tính vào giá gia công, giá thu mua theo nguyên tắc nêu trên. Số vốn vay của xã viên cũng như tỷ lệ trả lãi tiền vay cho xã viên phải được NHNN xác nhận và đăng ký. 7. Chi phí quản lý bao gồm: công tác phí, văn phòng phẩm, tiền nước uống, tiền thuốc dùng chung trong hợp tác xã, chí phí tiếp khách, lãi vay ngân hàng (chưa được tính theo điểm 6 trong thông tư hướng dẫn ày), ... được tính theo chế độ Nhà nước quy định. Để thuận tiện khi tính giá gia công, giá thu mua Uỷ ban nhân dân có thể quy định bằng tỉ lệ % trên tiền công chính của xã viên trực tiếp sản xuất của từng ngành nghề cho hợp lý. Nhưng không được quá 15% tiền công chính của xã viên trực tiếp sản xuất được tính trong giá Ngoài các yếu tố chi phí sản xuất và liên quan đến sản xuất ra sản phẩm nêu rên, trong giá gia công, giá thu mua còn có thêm: B. Lãi định mức : được xác định theo nguyên tắc đảm bảo cho các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp lập các quỹ (tích luỹ, phúc lợi xã hội, khen thưởng...) có sự phân biệt theo hướng khuyến khích sản xuất hàng thiết yếu, hàng phục vụ thiếu nhi, hàng có chất lượng cao, hàng xuất khẩu hoặc thay thế nhập khẩu. Trước mắt, lãi định mức tạm tính từ 20% đến 45% tính trên tiền công chính và do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định cụ thể cho từng sản sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm. Đối với hàng thiết yếu hàng phục vụ thiếu nhi, hàng có chất lượng cao, hàng xuất khẩu hoặc thay thế hàng nhập khẩu tỷ lệ lãi được cộng thêm từ 10 - 20%, so với mức lãi của sản phẩm thông thường khác. Nhưng tử lệ lãi cao nhất không được vượt quá 55% tính trên tiền công chính. Uỷ ban Nhân dân tỉnh căn cứ vào hướng dẫn trên để qui định tỷ lệ lãi cho từng sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm cho hợp lý. C. Kinh phí ngành được tính bằng 1,5% trên tiền công chính (bao gồm cả tiền công của bộ phận quản lý) trong giá giá công và giá thu mua. D. Thuế tính theo quy định của Nhà nước . Thuế doanh nghiệp tính bằng 3%, 4%, 5% trên giá giá công , giá thu mua tuỳ theo từng mặt hàng đã quy định trong các biểu thuế của Nhà nước. III. PHƯƠNG THỨC GIÁ ĐẤU THẦU Áp dụng hình thức đấu thầu để ưu tiên đặt hàng và cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở làm ra sản phẩm tốt, giá rẻ là một bước đổi mới trong cơ chế quản lý kinh tế, Liên Bộ đề nghị Bộ Công nghiệp nhẹ, Bộ Ngoại thương và các ngành có liên quan cùng với Uỷ ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng... căn cứ vào những qyu định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng sớm có đề án thực hiện thí điểm phươn thức giá đấu thầu đối với những mặt hàng thuộc thẩm quyền quyết định giá của mình để từ đó rút kinh nghiệm triển khai thực hiện đối với các ngành khác. IV. PHÂN CẤP QUẢN LÝ GIÁ: 1. Dối voi những sản phẩm thuộc danh mục Nhà nước định giá (Bộ và tỉnh) thì hợp tác xã cung đơn vị tiêu thụ được chỉ định căn cứ vào nội dung hướng dẫn của Thông tư Liên Bộ này, xây dựng phương án giá trình cấp có thẩm quền xét duyệt. Đối với sản phẩm quan trọng (dệt vải, dệt thảm, may quần áo, hàng mỹ gnhệ, mây tre đan xuất khẩu...) thuộc thẩm quyền quyết định giá của trung ương thì các Bộ quyết định giá thu mua, giá giá công (giá chuẩn hoặc khung giá) để làm căn cứ cho đơn vị kinh doanh trực thuộc Bộ thoả thuận giá mua và giá bán sản xuất cụ thể của địa phương hoặc hợp tác xã sản xuất. Trước khi quyết định giá chuẩn hoặc khung giá, các Bộ cần trao đổi với các tỉnh, thành phố có sản lượng sản xuất lớn cho Trung ương. Những mặt hàng khác do Uỷ ban Nhân dân tỉnh (hoặc cấp được uỷ quyền) quyết định giá. Nếu là sản phẩm sản xuất giao cho trung ương thì tỉnh cần trao đổi với tổ chức khách hàng được chỉ định của Trung ương trước khi quyết định giá. 2. Đối với những sản phẩm sản xuất ngoài hợp đồng kinh tế, bằng nguyên liệu do hợp tác xã tự kiếm và phần sản phẩm còn lại sau khi hợp tác xã đã làm tròn nhiệm vụ đóng thuế và giao đủ sản phẩm cho các đơn vị kinh tế quốc doanh và các đơn vị kinh tế khác theo hợp đồng kinh tế đã ký kết mà hợp tác xã được phép tự tổ chức tiêu thụ, thì hợp tác xã phải theo đúng khung giá của chính quyền địa phương quy định. Hợp tác xã phải chấp hành nghiêm chỉnh chính sách thuế, chính sách giá, quản lý thị trưởng... của Nhà nước. Nếu tổ chức kinh tế quốc doanh cần mua thì mua theo giá thoả thuận theo sự hướng dẫn của địa phương. Danh mục sản phẩm hợp tác xã được tự tổ chức tiêu thụ do Uỷ ban Nhân dân tỉnh quy định. 3. Trên cơ sở giá cả đã được cấp có thẩm quyền quyết định, Uỷ ban Vật giá tỉnh, Sở Tài chính, Liên hiệp xã tiêu, thủ công nghiệp cùng các ngành có liên quan trong tỉnh thường xuyên kiểm tra việc thực hiện chính sách giá, phương pháp tính giá, giá chỉ đạo của Nhà nước... đối với các hợp tác xã và đơn vị đặt hàng (bao gồm cả khách hàng trung ương và địa phương). Những đơn vị và cá nhân vi phạm kỷ luật Nhà nước về giá đều bị xử lý nghiêm khắc theo tinh thần Nghị định số 191-HĐBT ngày 4 tháng 8 năm 1986 của Hội đồng Bộ trưởng. Thông tư Liên Bộ này có hiệu lực thi hành từ ngày ký. Các điều quy định trước đây của Uỷ ban Vật giá Nhà nước, Bộ Tài chính trái với qui định này đều không có hiệu lực thi hành. Liên Bộ, đề nghị Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương căn cứ vào quy định trong Thông tư Liên Bộ này hướng dẫn cụ thể các đơn vị trực thuộc thực hiện. Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn, đề nghị các đơn vị kinh tế cơ sở, các ngành, các địa phương phản ánh kịp thời để Liên Bộ bổ sung, sửa đổi.