THÔNG TƯ Hướng dẫn việc lập dự toán và hạch toán tiền lãi trả ngân hàng về vay vốn lưu động đối với đơn vị nhận thầu xây lắp
Căn cứ Điều lệ quản lý xây dựng cơ bản ban hành kèm theo Nghị định số 232/CP ngày 6/6/1981 của Hội đồng Bộ trưởng và Quyết định số 139/NH-QĐ ngày 14/10/1986 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành "Biểu lãi suất cụ thể về tiền gửi và cho vay của Ngân hàng Nhà nước"
Sau khi thống nhất với Uỷ ban XDCB Nhà nước, Bộ Tài chính hướng dẫn việc lập dự toán và hạch toán tiền lãi trả ngân hàng về vay vốn lưu động như sau: 1/ Đối với các khoản nợ về vay vốn lưu động hoàn trả đúng thời gạn (bao gồm trong hạn mức kế hoạch và trên hạn mức kế hoạch) thì tiền lãi trả Ngân hàng được tính vào giá thành sự toán xây lắp của công trình xây dựng. Khoản tiền lãi này được quy định theo tỷ lệ phần trăm (%) so với tổng các chi phí: chi phí vật liệu, chi phí nhân công, chi phí may thi công, chi phí trực tiếp khác và phụ phí thi công được lập theo định mức, đơn giá của Nhà nước (Tỷ lệ cụ thể quy định trong phụ lục kèm theo thông tư này). 2/ Đối với các khoản vợ về vay vốn lưu động quá hạn trả và trên hạn mức kế hoạch do nguyên nhân chủ quan của đơn vị thì tiền lãi trả Ngân hàng được trích từ phần lãi để lại của đơn vị nhận thầu xây lắp để trả. 3/ Về phương pháp hạch toán kế toán ở đơn vị nhận tầu xây lắp: Cuối tháng, căn cứ vào phiếu báo tiền lãi phải trả của Ngân hàng, kế toán tiến hành: a) Xác định số lãi vay nợ đúng hạn phải trả để hạch toán vào giá thành sản phẩm và ghi sổ: Nợ TK: 27 (chi phí gián tiếp) Có TK: 51 (tiền gửi Ngân hàng) b) Xác định số lãi vay nợ quá hạn phải trả để hạch toán giảm lãi của đơn vị và ghi sổ: Nợ TK: 99 (lãi, lỗ) Có TK: 51 (tiền gửi Ngân hàng) 4/ Điều khoản thi hành: - Thông tư này không áp dụng đối với công trình xây dựng cơ bản thi công theo phương thức tự làm. - Việc bổ sung khoản tiền lãi trả ngân hàng vào dự toán được quy định tại điểm 1 trên đây được thực hiện cho những khối lượng thi công xây lắp từ ngày 01/10/1986 trở đi. - Thông tư này thay thế cho thông tư số 42-TC/ĐT ngày 17/10/1984 của Bộ Tài chính./.