THÔNG TƯ Quy định chế độ nộp chênh lệch giá. Thực hiện chỉ thị số 271/CT ngày 24/9/1987 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng “Về công tác giá cả và quản lý giá trong tình hình hiện nay”. Trong tình hình giá cả còn biến động tăng lên, các khoản chênh lệch giá thường xuyên phát sinh ở các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc nhiều ngành nhiều cấp trong nền kinh tế quýc dân; Để tập trung đầy dủ mọi khoản chênh lệch giá vào Ngân sách Nhà nước, nhằm tăang cường công tác quản lý tài chính, thúc đẩy chế độ hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Bộ Tài chính quy định chế độ thu nộp các khoản chênh lệch giá phát sinh trong quá trình sản xuất, kih doanh như sau: I. ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐƠN VỊ NỘP CHÊNH LỆCH GIÁ Các đơn vị thương nghiệp, cung ứng vật tư, ăn uống, dịch vụ, hàng không, đường sắt, đường biển, du lịch ... thuốc các ngành kinh tế quốc doanh và các tổ chức kinh tế khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh phát sinh chênh lệch giá đều phải nộp vào Ngân sách Nhà nước. Các xí nghiệp hạch toán kinh tế, các đơn vị trực thuộc các Tổng công ty, các đơn vị hạch toán toàn ngành, có chênh lệch giá phát sinh trong hoạt động kinh doanh, tự sản xuất, gia công, chế biến ... đều trực tiếp nộp vào Ngân sách Nhà nước theo quy định tại thông tư này II. XÁC ĐỊNH MỨC CHÊNH LỆCH GIÁ 1) Chênh lệch giá phát sinh trong khâu sản xuất công nghiệp quốc doanh Như trên đã phân tích, giá cả hiện nay còn biến động tăng lên nên giá bán buôn công nghiệp cũng phải điều chỉnh cho phù hợp về chênh lệch giá thường xuyên phát sinh trong khâu sản xuất công nghiệp. Do đó Bộ Tài chính đã có thông tư 47/TC - TQD ngày 27/12/1985 và thông tư số 21/TC-TQD ngày 21/8/1986 để thu kịp thời phần chênh lệch giá đó vào Ngân sách Nhà nước theo chế độ thu quốc doanh bổ sung, Nếu chưa xác định kịp mức thu quốc doanh bổ sung do tính “đầu vào ”, “đầu ra” chưa xong thì có thể tạm thời thu chênh lệch giá và sau đó phải xác định mức thu quốc doanh bổ sung để làm
căn cứ kiểm tra, đôn đốc thu nộ vào Ngân sách Nhà nước. 2) Chênh lệch giá phát sinh trong khâu lưu thông a. Chênh lệch giá phát sinh lúc nhạp kho hàng hoá Các sản phẩm thu mua, gia công, tự sản xuất, khi nhập kho mà giá mua thực tế thấp hơn giá vốn chỉ đạo nhập kho (giá vốn chỉ đạo nhạp kho đối với các đơn vị thương nghiệp là giá bán lẻ trừ chiết khấu thương nghiệp; đối với các đơn vị vật tư là giá bán buôn vật tư trừ chiết khấu vật tư), có phát sinh chênh lệch giá đều phải nộp vào Ngân sách Nhà nước, bao gồm: - Chênh lệch giá mua hàng nhập khẩu trong trường hợp giá thanh toán với Ngoại thương theo lô, theo kiện, nhưng khi nhập kho phải tính giá chi tiết từng mặt hàng và 1 số mặt hàng có giá mua thấp hơn giá vốn chỉ đạo nhập kho, - Chênh lệch giá thu mua hàng tiểu thủ công nghiệp, nông sản, thực phẩm có giá mua thấp hơn giá vốn chỉ đạo nhập kho - Chênh lệch giá hàng gia công, tự sản xuất ở các đơn vị hạch toán phụ thuộc có phát sinh chênh lệch giá. Công thức tính chênh lệch giá ở khâu mua như sau: Mức chênh lệch giá = khâu mua Giá bán lẻ chỉ đạo hoặc - giá BB vật tư Chiết khấu thương nghiệp hoặc chiết - khấu vật tư Giá mua thực tế Mức chênh lệch giá = khâu mua Giá bán lẻ chỉ đạo hoặc - giá BB vật tư Chiết khấu T/nghiệp hoặc CK vật tư Giá thành - kế hoạch Thuế + nếu có L/nhuận + định mức nếu có b) Chênh lệch giá phát sinh lúc hàng hoá bán ra: Các đơn vị kinh doanh thương nghiệp cung ứng vật tư ăn uống, dịch vụ, các ngành hàng không, đường sắt, đường biển, du lịch, có bán hàng hoá, vật tư cao hơn giá chỉ đạo nhập kho đều phải nộp khoản chênh lệch giá vào Ngân sách Nhà nước, bao gồm: - Chênh lệch giá bán hàng hoá, vật tư theo giá lẻ như: xăng dầu, sắt thép, xi măng, gỗ ... - Chênh lệch giá ở các đơn vị kinh doanh ăn uống, dịch vụ của các ngành có bán hàng công nghệ phẩm và thực phẩm công nghệ với giá cao hơn giá chỉ đạo nhập kho. - Chênh lệch giá ở các đơn vị kinh doanh thương nghiệp, vật tư địa phương tỉnh, thành phố, quận, huyện bán hàng với giá cao hơn giá chỉ đạo nhập kho. - Chênh lệch giá ở các đơn vị tổ chức kinh doanh theo giá thoả thuận, do giá bán thực tế cao hơn giá vốn (giá mua + chi phí lưu thông và lợi nhuận định mức). Công thức tính chênh lệch giá ở khâu bán như sau: Mức chênh lệch giá trong khâu bán ra = Giá bán thực thu - Giá mua + Chiết khấu thương nghiệp hoặc CKVT III. BIỆN PHÁP KÊ KHAI THU NỘP CHÊNH LỆCH GIÁ VÀO NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Kê khai chênh lệch giá phát sinh khi nhập kho hàng hoá Mỗi khi nhập kho hàng hoá, kế toán phải
căn cứ vào hàng hoá đơn mua hàng kiêm phiếu nhập kho để định khoản ngay tên từng hoá đơn khoản chênh lệch giá phải nộp và phải bù. Định kỳ 10 ngày 1 lần, kế toán lập bản kê nộp chênh lệch giá (sau khi đã trừ số phải bù), làm tờ khai kiêm uỷ nhiêmj chi nộp NSNN, gửi Ngân hàng phục vụ xí nghiệp.
Căn cứ vào giấy nộp tiền, ngân hàng trích nộp khoản chênh lệch giá vào Ngân sách Nhà nước. 2. Kê khai chênh lệch giá phát sinh khi hàng hoá bán ra
Căn cứ và báo cáo bán hàng, kế toán xác định chênh lệch giá phải nộp. Định kỳ 5 hoặc 10 ngày kế toán lập bảng kê nộp chênh lệch giá và làm thủ tục trích nộp chênh lệch giá gửi ngân hàng phục vụ xí nghiệp.
Căn cứ vào tiền, ngân hàng trích nộp khoản chênh lệch giá vào Ngân sách Nhà nước. Đối với một số mặt hàng như: sắt thép, xăng dầu, xi măng, bia hơi ... mức chênh lệch giá hàng kê nộp cho từng mặt hàng cụ thể. Đối với các đơn vị...... nhiều mặt hàng phức tạp có phát sinh chênh lệch thì số chênh lệch giá nộp vào... có thể trích nộp theo số thực tế phát sinh, hoặc được trích nộp theo tỷ lệ trên doanh số bán thực thu và điều chỉnh theo quyết toán thực tế. Tỷ lệ (%) nộp chênh lệch giá kế hoạch phải được cơ quan tài chính cùng cấp xác định và thông báo cho ngân hàng phục vụ xí nghiệp. Đối với các đơn vị kinh doanh theo giá thoả thuận, đơn vị được phép bù trừ chênh lệch giá phải thu, phải bù và được giữ lại không quá 20% tổng số chênh lệch giá phát sinh để bổ sung quỹ khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh (bổ sung vốn lưu động tự có). Khoản chênh lệch giá thoả thuận còn lại được nộp vào NSNN theo kế hoạch và điều chỉnh theo thực tế. IV. QUY ĐỊNH TỶ LỆ NỘP CÁC KHOẢN CHÊNH LỆCH GIÁ VÀO NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG VÀ NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG Tỷ lệ nộp các khoản chênh lệch giá vào Ngân sách trung ương và Ngân sách địa phương được quy định cụ thể như sau: 1. Các đơn vị kinh doanh thương nghiệp, cung ứng vật tư ăn uống, dịch vụ ở các ngành thuộc trung ương quản lý, nộp 100% các khoản chênh lệch giá phát sinh vào Ngân sách trung ương. 2. Các đơn vị kinh doanh thương nghiệp, cung ứng vật tư, ăn uống, dịch vụ các ngành thuộc tỉnh, thành phố, quận huyện quản lý bán hàng, chênh lệch giá thì điều tiết số thu theo nguyên tắc sau đây: a) Các mặt hàng vật tư, tư liệu sản xuất như sắt thép, xăng dầu, xi măng, gỗ và những mặt hàng tiêu dùng: vải, thuốc lá, rượu, bia ... do các công ty cung ứng vật tư và thương nghiệp tỉnh, thành phố, quận, huyện kinh doanh, có chênh lệch giá phát sinh thì phải nộp số chênh lệch giá đó cho Ngân sách trung ương 70% và Ngân sách địa phương 30%. b) Các mặt hàng tiêu dùng khác do các công ty thương nghiệp tỉnh, thành phố, quận huyện kinh doanh có chênh lệch giá phát sinh thì phải nộp số chênh lệch giá đó cho Ngân sách trung ương 50% và ngân sách địa phương 50%. Riêng 6 mặt hàng định lượng bán giá ổn định cho cán bộ công nhân viên trên địa bàn tỉnh, thành phố, nếu các địa phương cho bán một giá cao hơn giá ổn định (Theo quyết định 146/HĐBT ngày 22/9/1987 của Hội đồng Bộ trưởng) thi khoản chênh lệch giá được giữ lại để bù trực tiếp cho cán bộ công nhân viên của địa phương và trung ương đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố. V. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA CƠ QUAN TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC Để tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc thu nộp ngân sách được đầy đủ, kịp thời, Bộ Tài chính giao cho cán bộ Tài vụ (đối với các ngành chủ quản) và cán bộ chuyên quản tại chính xí nghiệp (đối với các xí nghiệp cơ sở) giúp đỡ các Bộ, các ngành, các xí nghiệp lập kế hoạch. Tổ chức thu nộp, giải quyết khó khăn về vốn, về tiêu thụ, thanh toán ... để các đơn vị sản xuất, kinh doanh thực hiện đầy đủ những quy định trên. Thông tư này thay thế cho các văn bản quy định về chế độ nộp các khoản chênh lệch giá trước đây và có hiệu lực thi hành từ ngày ký. Riêng phần chênh lệch giá hàng kiểm kê tồn kho thực hiện theo thông tư số 46/TT-LB của Liên Bộ Tài chính Ngân hàng Nhà nước Việt nam. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc gì, đề nghị các ngành, các cấp phản ảnh kịp thời về Bộ Tài chính để nghiên cứu giải quyết./.