THÔNG TƯ Hướng dẫn xử lý và hạch toán chênh lệch giá vật tư hàng hoá giao gia công Thi hành công văn số 545 V6/Đ ngày 28/9/1987 của Hội đồng Bộ trưởng về những điểm cần chú ý khi chỉ đạo kiểm kê theo chỉ thị 269/CT ngày 22/9/1987 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về kểm kê vật tư hàng hoá, quỹ bằng tiền trong khu vực kinh tế quốc doanh, Bộ Tài chính hướng dẫn việc xử lý và hạch toán chênh lệch giá đối với các loại vật tư hàng hoá giao gia công như sau: 1/ Khi Nhà nước có quyết định thay đổi giá các cơ sở tập thể, tư nhân, cá thể phải tổ chức kiểm kê tất cả các loại vật tư, hàng hóa tồn kho (gồm cả hàng hoá không giao nộp hết) do các tổ chức kinh tế quốc doanh giao gia công chế biến, kể cả những loại vật tư, hàng hoá hợp đồng theo phương thức bán nguyên liệu, thu mua thành phẩm. Các cơ sở tập thể, tư nhân và cá thể phải tiến hành kiểm kê vật tư hàng hoá tồn kho về hiện vật và giá trị theo sổ kế toán và cân đo, đong đếm trong thực tế: xác định giá trị vật tư hàng hoá tồn kho theo giá cũ và giá trị vật tư hàng hoá tồn kho theo giá mới để xác định chênh lệch giá vật tư, hàng hoá tồn kho ở thời điểm kiểm kê. Các đơnvị kinh tế quốc doanh giao vật tư hàng hoá gia công và bán nguyên vật liệu là cơ quan chủ quản hướng dẫn việc kiểm kê xác định chênh lệch giá đối với số vật tư hàng hoá giao cho các đơn vị kinh tế tập thể, tư nhân và cá nhân nhận sản xuất, gia công. 2/ Khoản chênh lệch giá của vật tư, hàng hoá giao gia công được xử lý theo những quy định sau đây: a) Đối với loại vật tư, hàng hoá do các tổ chức kinh tế quốc doanh giao cho các cơ sở tập thể (HTX) hoặc tư nhân, cá thể gia công chế biến thì chênh lệch giá vật tư, hàng hoá được xử lý và hạch toán theo quy định tại thông tư Liên Bộ Tài chính Ngân hàng Nhà nước số 46 TT/LB-TC/NH ngày 30/9/1987 áp dụng cho các đơn vị kinh tế quốc doanh là bên đưa gia công, là chủ sở hữu vật tư, hàng hoá đó. b) Trường hợp các tổ chức kinh tế quốc doanh hợp đồng theo phương thức bán nguyên liệu, thu mua thành phẩm, thì số thành phẩm được bên mua than toán theo giá mới phải trừ đi phần thành phẩm thu mua. Khi nhập kho thành phẩm các tổ chức kinh tế quốc doanh phải xác định chính xác và nộp toàn bộ số chênh lệch giá này vào Ngân sách Nhà nước theo chế độ hiện hành. Kế toán ghi sổ như sau: - Đối với đơn vị sản xuất: Nợ TK 40 “Thành phẩm”(hoặc TK 05 ...): giá trị thành phẩm (hoặc bán thành phẩm) nhập kho theo giá mới. Có TK 60 “Thanh toán với người bán và người nhận thầu”: Số tiền phải thanh toán với đơn vị nhận gia công. Có TK 71 “Thanh toán với Ngân sách”. Khoản chênh lệch giá vật tư phải nộp. - Đối với đơn vị thương nghiệp: Nợ TK 41 “Hàng hoá”. Giá trị hàng hoá theo giá nhập kho Có TK 42 “Chiết khấu thương nghiệp”. Số chiết khấu của hàng nhập kho Có TK 60 “Thanh toán với người bán và người nhận thầu”. Số tiền phải thanh toán với đơn vị nhận gia công Có TK 71 “Thanh toán với Ngân sách”. Khoản chênh lệch giá vật tư phải nộp. Khi nộp ngân sách Nhà nước khoản chênh lệch giá phải nộp, kế toán ghi: Nợ TK 71 “Thanh toán với Ngân sách” Có TK 51 “Tiền gửi Ngân hàng” 3/ Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 1987 và được áp dụng cho cả các trường hợp phát sinh chênh lệch giá vật tư, hàng hoá giao gia công trước 1 tháng 10 năm 1987 mà chưa thanh toán hợp đồng giao nhận thành phẩm theo giá mới. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc các đơn vị cơ sở cần phản ánh kịp thời cho các cơ quan chủ quản cấp trên và Bộ Tài chính để giải quyết./.