THÔNG TƯ LIÊN BỘ Hướng dẫn thi hành chỉ thị số 1139/PPLT ngày 02/7/1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc xử lý vốn lưu động thiếu cho các đơn vị KTQD Thi hành kết luận Hội nghị Bộ Chính trị số 14/NQ/TƯ ngày 23/5/1988 về Ngân sách Nhà nước năm 1988 và Chỉ thị số 1139/PPLT ngày 02/7/1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc xử lý vốn lưu động thiếu cho các đơn vị kinh tế quốc doanh, Liên Bộ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước Việt nam hướng dẫn cụ thể như sau: 1. Các xí nghiệp quốc doanh đã đi vào hoạt động từ trước, được Ngân sách Nhà nước giải quyết vốn lưu động từ nhiều nguồn bao gồm: vốn động định mức do Ngân sách Nhà nước đã cấp một phần lần đầu; số trích từ chênh lệch giá qua các đợt kiểm kê tồn kho theo chủ trương điều chỉnh giá của Nhà nước để bổ sung vào vốn lưu động; số nợ ngân hàng đã chuyển thành vốn tự có theo Thông tư Liên Bộ Tài chính -Ngân hàng số 57TT/LB/TC/-NH ngày 4/11/1987. Theo kết luận Hội nghị Bộ Chính trị số 14/NQ/TƯ ngày 23/5/198, từ nay, Ngân sách Nhà nước không cấp phát bổ sung vốn lưu động hàng năm nữa mà xí nghiệp phải tự tạo vốn theo tinh thần tự chủ tài chính, nếu còn thiếu có thể vay Ngân hàng. Các biện pháp cấp bách để tự tạo vốn trong hoàn cảnh trước mắt là: a. Các đơn vị quốc doanh sản xuất và lưu thông phải soát
xét lại dự trữ vật ưu, hàng hoá tồn kho, chỉ duy trì mức dự trữ trong phạm vi định mức cần thiết; phải giao hàng theo đúng kế hoạch, đúng thời gian và đúng hợp đồng đã ký kết; không găm hàng, giữ hàng chờ nâng giá. Các ngành, các địa phương phải có biện pháp xử lý ngay vật tư, hàng hoá ứ đọng, chậm luân chuyển, thu hồi vốn tạm ứng và vốn bị chiếm dụng lâu ngày. Huy động các quỹ và các nguồn vốn bị chiếm dụng lâu ngày. Huy động các quỹ và các nguồn vốn khác ở xí nghiệp tạm thời chưa dùng đến để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động; thực hiện đúng việc trích quỹ phát triển sản xuất để bổ sung vốn lưu động tự có. Tuyệt đối không được giữ lại các khoản phải nộp ngân sách để bổ sung vốn lưu động. b. Các đơn vị quốc doanh được tự huy động vốn lưu động bằng các hình thức cổ phần, liên doanh, liên kết..., lãi suất về vốn huy động theo các hình thức nói trên được hạch toán vào giá thành và phí lưu thông nhưng phải bảo đảm nộp đủ các khoản thu tích luỹ cho Ngân sách Nhà nước. c. Trường hợp Nhà nước chủ trương điều chỉnh nâng giá bán vật tư, hàng hoá thì đơn vị được dùng số chênh lệch giá vật tư, hàng hoá tồn kho qua kiểm kê để tự bổ sung vốn lưu động thiếu. Bộ, ngành chủ quản và các địa phương được điều hoà số vốn lưu động từ nơi thừa sang nơi thiếu.
Sau khi đã thực hiện việc tự bù đắp vốn lưu động thiếu bằng nguồn chênh lệch giávà điều hoà vốn trong toàn ngành nói trên, Bộ , ngành chủ quản và các địa phương phải thống kê tổng hợp báo cáo cho cơ quan tài chính và Ngân hàng Nhà nước cung cấp biết. 2. Ngân hàng cho vay vốn lưu động phải đảm bảo nguyên tắc có hiêu quả kinh tế có khả năng hoàn trả vốn vay, trong phạm vi nguồn vốn huy động và nguồn vốn tín dụng được Nhà nước cấp. Các Ngân hàng chuyên doanh phải chỉ đạo tổ chức thực hiện nghiêm túc các cơ chế tín dụng và lãi suất mới ban hành để thúc đẩy đơn vị kinh tế phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông, tăng nhanh vòng quay tiền vốn. đối với số dư nợ Ngân hàng đã cho vay theo công văn số 166/V6 ngày 8/2/1988 của Hội đồng Bộ trưởng tính đến ngày 30/6/1988, Liên Bộ sẽ đề nghị Hội đồng Bộ trưởng giải quyết nguồn vốn cho Ngân hàng. Số dư nợ đó Ngân hàng chuyển sang tài khoản cho vay mới và áp dụng lãi suất hiện hành và có phân biệt. 3. Cơ quan Tài chính thực hiện tạm cấp theo kế hoạch số bù lỗ đối với các mặt hàng bán theo định lượng cho công nhân viên chức (như lương thực...) và số trợ cấp xuất khẩu theo mức khoán; đồng thời thanh toán số bù lỗ, số trợ cấp theo quuyết toán quý, năm của các đơn quốc doanh đã được cơ quan tài chính xét duyệt công nhận. Việc xử lý vốn lưu động cho các đơn vị kinh tế quốc doanh theo kết luận của Bộ Chính trị và Chỉ thị của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng là một việc làm có nhiều khó khăn phức tạp, Liên Tài chính - Ngân hàng Nhà nước Việt nam đề nghị các đồng chí Bộ trưởng, các đồng chí Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh tăng cường chỉ đạo, kiểm tra các xí nghiệp thực hiện đúng đắn, có hiệu quả các vấn đề trên./.