THÔNG TƯ Hướng dẫn xử lý chênh lệch tỷ giá kết toán nội bộ
Sau khi nghiên cứu nhiều trường hợp các đơn vị gửi hồ sơ đến theo Thông tư 54-TC/NT NT ngày 27/10/1987, Bộ Tài chính giải thích và quy định về vấn đề xử lý chênh lệch tỷ giá kết toán nội bộ thay cho Thông tư số 54 - TC/NTNT như sau: Trong những năm gần đây, sức mua của đồng tiền nước ta liên tục giảm sút. Đề phù hợp với sức mua thực tế của đồng tiền trên thị trường xã hội trong từng thời kỳ, Nhà nước đã phải điều chỉnh nâng cao mức giá của hệ thống giá bán buôn vật tư của Nhà nước và cũng đồng thời điều chỉnh tỷ giá Việt Nam ở các thời kỳ đó (10/1981; 9/1985; 10/1987; 9/1988). Trong thực tế sản xuất kinh doanh, số tiền Việt Nam mà các đơn vị sản xuất kinh doanh được Ngân hàng kết hối trước mỗi lần thay đổi tỷ giá đều đã được đưa vào sử dụng quay vòng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình theo mức giá thể hiện sức mua của đồng Việt Nam lúc nhận tiện. Từ năm 1987, cơ quan Tài chính đã không thu số tiền chênh lệch giá vật tư hàng hoá phát sinh tại đơn vị sản xuất kinh doanh ở các thời điểm kiểm kê chính là để các đơn vi sản xuất kinh doanh có nguồn bù đắp số vốn lưu động danh nghĩa phải tăng theo đã trượt giá. Đây cũng là nguồn để bù đắp số chênh lệch tỷ giá ở các đơn vị sản xuất kinh doanh giữa các thời điểm thay đổi tỷ giá. Hiện nay rủi ro về vốn mất đi do biến động sức mua của đồng Việt Nam mà các đơn vị kinh tế giữ ở quỹ tiền mặt và trên tài khoản Ngân hàng là rủi ro xảy ra chung trong nền kinh tế chứ không riêng gì đồng Việt Nam rút ra từ gốc Ngoại tệ. Những rủi ro này, trong điều kiện lạm phát mối đơn vị cần tự mình có biện pháp hạn chế chúng trong quá trình kinh doanh. Vì vậy, việc yêu cầu cơ quan Tài chính cấp bù toàn bộ số chênh lệch tỷ giá của số dư quyền sử dụng ngoại tệ theo cách tính số học lấy tỷ giá mới trừ (-) tỷ giá cũ mỗi khi Nhà nước công bố tỷ giá kết toán nội bộ mới là không hợp lý; Ngân sách không thể bao cấp khoản bù cho sự mất giá tiền tệ đối với số tiền Việt Nam đã đi vào lưu thông, dù ở thị trường có tổ chức hay ở thị trường tự do. Tuy nhiên có thể xảy ra thiệt thòi đối với trường hợp đơn vị vừa mới nhận tiền Việt Nam theo tỷ giá cũ, cách ngày điều chỉnh tỷ giá không xa, nay phải thi hành tỷ giá mới để sử dụng quyền sử dụng ngoại tệ. Từ tình hình thực tiễn trên, và xuất phát từ khả năng ngân sách Nhà nước trong điều kiện đang bội chi lớn. Bộ Tài chính đề ra biện pháp xử lý về Tài chính khi Nhà nước điều chỉnh tỷ giá kết toán nội bộ như sau: I/ CÁC QUY ĐỊNH VỀ XỬ LÝ TÀI CHÍNH KHI NHÀ NƯỚC ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ KẾT TOÁN NỘI BỘ: 1- Đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh, nói chung ngân sách Nhà nước chỉ bù cho các trường hợp số dư quyền sử dụng ngoại tệ phát sinh trong vòng một quý trước thời điểm điều chỉnh tỷ giá kết toán nội bộ (đối với lần điều chỉnh ngày 15/8/1988 này thì chỉ bù cho số phát sinh từ ngày 01/7/1988). Cơ quan Tài chính cùng cấp
căn cứ vào số phát sinh QSDNT trên đây và chênhlệch tỷ giá lần này (550 đ/R chuyển nhượng, 675 đ/ USD) để tính mức chênh lệch tỷ giá phải bù cho đơn vị. Trong trường hợp đơn vị sản xuất kinh doanh có chuyển một phần QSDNT từ tài khoản của mình sang đơn vị bạn để uỷ thác nhập khẩu đến ngày thay đổi tỷ giá kết toán nội bộ vẫn chưa được nhận hàng (tiền còn nằm tại tài khoản Ngân hàng phục vụ đơn vị nhận uỷ thác) thì đơn vị uỷ thác nhập khẩu sẽ lấy xác nhận của Ngân hàng phục vụ đơn vị nhận uỷ thác nhập khẩu và của đơn vị nhận uỷ thác NK, để được xét tính số này vào sổ tiền chênh lệch có thể được cơ quan Tài chính cấp bù. Đồng thời đơn vị ủy thác phải chuyển thêm số đối giá tiền Việt Nam cho đủ theo tỷ giá kết toán nội bộ mới cho đơn vị nhận uỷ thác. Ví dụ: Tình hình tài khoản quyền sử dụng ngoại tệ đồng đôla Mỹ của Côngty X như sau: Tháng Tình hình biến động quyền sử dụng Ngoại tệ Số dư Thu Chi Tháng 6 - 1988 X X1.850.000 Tháng 7 - 1988 1.300.000 500.0002.650.000 Tháng 8 - 1988 200.000 750.0002.100.000 14 tháng 9 - 1988 1.000.000 800.0002.300.000
Căn cứ các số liệu trên, thì số phát sinh quyền sử dụng ngoại tệ từ 01/7 đến 14-9-1986 là: 2.300.000 - 1.850.000 = 450.000 Tổng số bù cho đơn vị X về chênh lệch tỷ giá kết toán nội bộ là: 450.000 x 675 đ = 303.750.000 đ Giả sử trong 15 ngày đầu tháng 9/ 1988 đơn vị xuất 800.000 USD chuyển sang đơn vị bạn để uỷ thác nhập khẩu, trước khi có quyết định điều chỉnh tỷ giá kết toán nội bộ dơn vị nhận uỷ thác đã mở L/C đợt 1 và thanh toán với trị giá 400. 000 USD còn 400.000 USD vẫn đang nằm ở Ngân hàng phục vụ đơn vị nhận uỷ thác. Trong trường hợp này, đơn vị uỷ thác phải lấy xác nhận của Ngân hàng phục vụ đơn vị nhận uỷ thác và của đơn vị nhận uỷ thác vèe số dư quyền sử dụng ngoại tệ trong 15 ngày tháng 9 - 1988. Như vậy, số phát sinh quyền sử dụng ngoại tệ trong 15 ngày tháng 9 là 600.000 USD và số tiền cơ quan tài chính cấp bù thêm là 400.000 x 675 đ = 270.000.000 đ Tổng số tiền đơn vị X được cơ quan tàichính cấp bù do điều chỉnh tỷ giá kết toán nội bộ là: 303.750.000 đ = 270.000.000 = 573.750.000 đ 2- Đối với các đơn vị kinh doanh dịch vụ đối ngoại thi hành chế độ thu phí dịch vụ bằng đồng Việt Nam coi là có gốc ngoại tệ. Các đơn vị này tuy đã được Nhà nước cho phép tự cân đối ngoại tệ, nhưng do các đơn vị khách hàng trong nước không có điều kiện thanh toán ngay trực tiếp bằng ngoại tệ, và do đó được Nhà nước cho phép thu phí dịch vụ của các tổ chức trong nước bằng đồng Việt Nam gốc ngoại tệ, khi thanh toán với nước ngoài đơn vị được Nhà nước cấp quyền sử dụng ngoại tệ (như Tổng công ty thuê tàu và môi giới hàng hải, Tổng công ty giao nhận kho vận ngoại thương, Công ty Bảo hiểm Việt Nam, Tổng cục bưu điện, Tổng cục hàng không, Côngty vận tải biển,... ) thì giải quyết như sau: - Nếu số tiền Việt Nam đối giá vẫn để nguyên số lượng trên tài khoản của đơn vị tại Ngân hàng và do đó bị mất giá, nay không đủ nguồn tiền Việt Nam mua ngoại tệ thanh toán với nước ngoài theo mức tỷ giá mới (trường hợp phảo thanh toán với nước ngoài sau ngày điều chỉnh tỷ giá), thì cơ quan Tài chính sẽ xem xét cấp bù. Trong quá trình xem xét việc trang trải nguồn tiền Việt Nam thiếu, trước hết các đơn vị phải dựa vào các nguồn thu khác phát sinh ở đơn vị mà trước đó chưa kế hoạch hoá nộp ngân sách Nhà nước. Trường hợp đơn vị kinh doanh, dịch vụ đối ngoại đã sử dụng một phần tiền Việt Nam đối giá của quyền sử dụng ngoại tệ để mua vật tư, hàng hoá kinh doanh bổ sung, hoặc để làm vốn xây dựng cơ bản, v.v.... thì cơ quan Tài chính sẽ không giải quyết nguồn thu tiền Việt Nam thiếu để mua lại quyền sử dụng ngoại tệ theo tỷ giá mới. Đơn vị có trách nhiệm hạch toán và quyết toán lại quỹ hàng hoá và vốn XDCB để có nguồn dôi ra tự trang trải số vốn thiếu hụt theo tỷ giá mới. 3- Đối với những đơn vị hoạt động bằng nguồn kinh phí ngân sách cấp phát: nếu được Hội đồng Bộ trưởng cho phép mua sắm trang thiết bị, vật tư theo kế hoạch Nhà nước bằng quyền sử dụng ngoại tệ thì được điều chỉnh dự toán chi tiền Việt Nam để bảo đảm việc mua hàng. II. MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CẦN LƯU Ý TRONG QUÁ TRÌNH XỬ LÝ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TÀI CHÍNH KHI NHÀ NƯỚC THAY ĐỔI TỶ GIÁ KẾT TOÁN NỘI BỘ: 1- Trường hợp các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu trung ương được Nhà nước giao nhiệm vụ nhập khẩu bằng nguồn ngoại tệ vay ngắn hạn, vay nóng, vay mua chịu .v. v... có ngân hàng bảo lãnh; sau khi hàng về tiêu thụ đã nội vào ngân sách Nhà nước đầy đủ các khoản chênh lệch ngoại thương hàng nhập khẩu trước ngày thay đổi tỷ giá, nay Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, chuyển giao nhiệm vụ cho các đơn vị trả nợ: Đối với trường hợp này các đơn vị phải chứng minh rõ ràng số tiền Việt Nam đối giá của số ngoại tệ nợ nước ngoài không hề được đơn vị sử dụng vào sản xuất kinh doanh bổ sung hoặc xây dựng cơ bản. Nếu đã đưa tiền Việt Nam đó vào kinh doanh bổ sung hoặc xây dựng cơ bản ngoài kế hoạch thì phải quyết toán rõ trị giá tăng của vốn sản xuất, của tài sản cố định tăng thêm và nộp vào ngân sách Nhà nước các khoản tăng này chỉ với điều kiện như vậy đơn vị mới có thể bàn giao số thu về tiền vay nước ngoài vào ngân sách Nhà nước theo tỷ giá cũ. Các đơn vị phải tống kê các khoản vay nói trên kèm theo văn bản Nhà nước giao nhiệm vụ vay, các chứng từ thanh toán hàng nhập khẩu, đồng thời chuyển nộp ngay khoản tiền bán hàng còn lại vào ngân sách Nhà nước, chậm nhất không muộn quá ngày 15/11/1988. Bộ Tài chính sẽ xem xét cấp số tiền Việt Nam để mua ngoại tệ trả nợ nước ngàoi theo tỷ giá hiện ành cho đơn vị đã thực hiện yêu cầu trên. 2- Đối với trường hợp các đơn vị sản xuất kinh doanh có vay vốn nước ngoài để nhập vật tư, thiết bị hàng tiêu dùng theo phương thức tự cân đối ngoại tệ và tự tái tạo ngoại tệ trả nợ vốn vay nước ngoài: Bộ Tài chính chỉ giải quyết cấp thêm tiền Việt Nam đủ để mua ngoại tệ theo tỷ giá mới, trong trường hợp toàn bộ số tiền Việt Nam thu được do bán hàng nhập khẩu, đơn vị đã nộp vào ngân sách Nhà nước ngay trong thời điểm vốn vay nước ngoài được chuyển hoá thành tiền Việt Nam. Trường hợp này được coi như là một khoản vay nợ Chính phủ. Bộ Tài chính không cấp bù nếu đơn vị chỉ nộp chênh lệch ngoại thương hàng nhập khẩu và giữ lại đối giá hàng Việt Nam của số gốc ngoại tệ vay. 3- Đối với một số đơn vị được Nhà nước cho phép chuyển khoản vay thương mại dở dang của mình thành khoản nợ của Nhà nước (ví dụ vay phân bón và trả nợ bằng lương thực của Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm): Trong trường hợp này đơn vị phải giải trình cụ thể và có báo cáo quyết toán rõ ràng phần vốn vay nước ngoài thuộc trách nhiệm của đơn vị trả nợ, phần thuộc trách nhiệm của Nhà nước trả nợ, đồng thời làm việc trực tiếp với Bộ Tài chính để giải quyết. Nếu đơn vị bàn giao trách nhiệm cho Nhà nước trả nợ cả phần của đơn vị đã sử dụng vốn vay thì đơn vị có trách nhiệm làm rõ kết quả tài chính của quỹ hàng hoá mà đơn vị đã mua bằng vốn vay theo tỷ giá cũ. 4- Đối với những trường hợp mua bán vật tư hàng hoá trong nước bằng quyền sử dụng ngoại tệ; Khi Nhà nước có quyết định thay đổi tỷ giá kết toán nội bộ mà hợp đồng mua bán, hợp đồng uỷ thác đang còn dở dang thì đơn vị có quyền sử dụng ngoại tệ phải chuyển thêm tiền Việt Nam cho đủ tỷ giá kết toán nội bộ hiện hành đối với phần quyền sử dụng ngoại tệ mà hai bên còn tiếp tục giao hàng cho nhau theo hợp đồng mua bán. 5- Đối với số ngoại tệ của Ban tiếp nhận viện trợ gửi tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam trong khi chờ ý kiến phân phối của Hội đồng Bộ trưởng: nếu số ngoại tệ này bị buộc phải đổi ra tiền Việt Nam nhưng vẫn để nguyên ở tài khoản tiền gửi và do đó bị mất giá so với tỷ giá mới thì Ban tiếp nhận viện trợ cần lập bảng kê kèm theo chứng từ và xác nhận của Ngân hàng gửi Bộ Tài chính; đồng thời nộp toàn bộ khoản tiền Việt Nam cho ngân sách Nhà nước theo tỷ giá ở thời điểm Ngân hàng kết hối quyền sử dụng ngoại tệ. Khi có Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng phân phối cho đơn vị nào hưởng ngoại tệ thì ngân sách Nhà nước sẽ cấp đủ tiền Việt Nam theo tỷ giá hiện hành để Ban tiếp nhận viện trợ chuyển ngoại tệ cho đơn vị được phân phối. Từ nay về sau, Ban tiếp nhận viện trợ cần bàn với Ngân hàng để giữ các tài khoản tiền này bằng nguyên tệ, mà không đổi ra tiền Việt Nam nữa. 6- Đối với các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu, dịch vụ đối ngoại (không phân biệt trung ương hay địa phương) có các trường hợp nhập khẩu sau đây: a/ Chứng từ thanh toán đối ngoại về trước, được Ngân hàng ngoại thương báo nợ theo tỷ giá cũ (đơn vị nộp tiền Việt Nam thanh toán đối ngoại theo tỷ giá cũ); còn hàng hoá về sau thời điểm Nhà nước điều chỉnh tỷ giá kết toán nội bộ 15/9/1988 nên được tiêu thụ theo mặt bằng giá mới. Đối với trường hợp này, phần chênh lệch phát sinh giữa giá bán mới với giá vốn theo tỷ giá cũ là khoản thu chênh lệch ngoại thương phải được quyết toán với cơ quan tài chính trong quyết toán quỹ. b/ Hàng hoá về trước, chứng từ thanh toán đối ngoại về sau thời điểm điều chỉnh tỷ giá kết toán nội bộ thì: - Nếu hàng hoá chưa tiêu thụ (vẫn còn trong kho hoặc đang trên đường về kho), các đơn vị phải kiểm kê lại hàng hoá theo mặt bằng giá bán mới, vốn mới và thực hiện thu bù chênh lệch ngoại thương theo chế độ hiện hành. - Nếu hàng đã tiêu thụ xong trước thời điểm điều chỉnh tỷ giá kết toán nội bộ thì phần chênh lệch giữa giá vốn hạch toán theo tỷ giá cũ với giá vốn Ngân hàng báo nợ theo tỷ giá mới sẽ giải quyết theo hai cách: Cách 1: Đơn vị điều chỉnh giá vốn hàng tiêu thụ trong năm (nếu hàng tiêu thụ trong cùng năm với báo Nợ của Ngân hàng). Cách 2: Đơn vị đưa số chênh lệch đó vào lỗ lãi năm trước (Nếu hàng tiêu thụ năm trước, Ngân hàng báo nợ vào năm sau). Cơ quan Tài chính sẽ giải quyết khoản chênh lệch giá vốn tăng thêm cho đơn vị qua kết quả kinh doanh hàng quý, hoặc năm thể hiện ở báo cáo quyết toán. Trừ các trường hợp được ngân sách Nhà nước cấp bù có điều kiện như trên và được cơ quan Tài chính xem xét xác nhận số bù, không đơn vị nào được tuỳ tiện tính số ngân sách phải bù theo quan điểm của mình rồi trừ giảm các khoản nộp ngân sách Nhà nước theo kế hoạch. III. THỦ TỤC CỤ THỂ TRONG VIỆC CẤP TIỀN VIỆT NAM BỔ SUNG KHI NHÀ NƯỚC ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ KẾT TOÁN NỘI BỘ: Các đơn vị thuộc diện được cơ quan Tài chính cấp thêm tiền Việt Nam để có đủ nguồn vốn mua lại quyền sử dụng ngoại tệ theo tỷ giá mới cần làm đầy đủ các thủ tục sau: - Xác nhận của cơ quan Ngân hàng về số dư quyền sử dụng ngoại tệ của đơn vị ở các thời điểm 30/6/1988 và 14/9/1988. - Bảng kê các chứng từ thanh toán tiền hàng. Nếu là đơn vị hành chính sự nghiệp có ngoại tệ: Quyết định của cơ quan có thẩm quyền cho phép đơn vị này được quyền sử dụng ngoại tệ. Trên cơ sở đã làm đầy đủ các thủ tục trên, đơn vị sẽ làm việc trực tiếp với cơ quan tài chính đồng cấp để được xét cấp thêm tiền Việt Nam mua lại quyền sử dụng ngoại tệ theo tỷ giá mới. Để tránh thiệt hại do sự mất giá của tiền Việt Nam chưa dùng đến, Bộ Tài chính đề nghị các đơn vị sản xuất kinh doanh có thu chi ngoại tệ từ nay trở đi tự cân nhắc về nhu cầu rút tiền Việt Nam từ gốc ngoại tệ. Bộ Tài chính sẽ cùng Ngân hàng thoả thuận để các đơn vị có thể gửi nguyên tệ ở tài khoản của mình tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam. Trong thời gian tới, theo đà cải tổ hệ thống Ngân hàng và cơ chế quản lý ngoại tệ, khi Nhà nước có mức tỷ giá hợp lý hơn thì việc mua bán ngoại tệ theo mức tỷ giá đó sẽ do các đơn vị sản xuất kinh doanh tự chịu trách nhiệm mua bán với Ngân hàng theo điều kiện tự nguyện và tự chịu rủi ro./.