THÔNG TƯ Quy định chế độ nộp chênh lệch giá Bộ Tài chính đã ra Thông tư số 59 TC/TQD ngày 6/11/1987 quy định chế độ nộp chênh lệch giá; nay để phù hợp với tình hình giá cả và đảm bảo quyền tự chủ tài chình trong sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở, Bộ Tài chính quy định lại chế độ thu và để lại chênh lệch giá cho các đơn vị sản xuất kinh doanh như sau: I. ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐƠN VỊ NỘP CHÊNH LỆCH GIÁ VÀO NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1/ Chênh lệch giá phải nộp ngân sách Nhà nước bao gồm: a) Chênh lệch giá do bán hàng hoá, vật tư (sắt, théo, ximăng, xăng dầu phân bón, than...) theo chính sách hai giá. b) Chênh lệch giá bán hàng nhập khẩu do có tỷ giá ngoại tệ hàng nhập thấp hơn giá bán thực tế cho các thành phần kinh tế trong nước. c) Chênh lệch giá gia công sản xuất phụ thuộc chưa áp dụng chế độ nộp thu quốc doanh. d) Chênh lệch giá do giá bán thực tế hàng công nghệ phẩm chuyển bán tại các dịch vụ hàng không, đường sắt, du lịch... cao hơn giá giao hàng của Trung ương. 2/ Các khoản chênh lệch giá được giữ lại bổ sung vốn lưu động cho đơn vị gồm: a) Chênh lệch giá do mua bán theo giá thoả thuận ngoài chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước, được để lại 100% để bổ sung đủ vốn lưu động cần thiết của đơn vị. b) Chênh lệch giá do đánh giá lại vật tư hàng hoá tồn kho khi có quyết định thay đổi giá bán lẻ, giá bán buôn vật tư do cấp có thẩm quyền quy định, được để lại 100% để bổ sung vốn lưu đông tự có cho đơn vị. c) Chênh lệch giá do địa phương bán giá cao hơn giá giao. Về nguyên tắc thì khoản chênh lệch giá này phải nộp vào ngân sách Nhà nước, nhưng nếu các đơn vị còn thiếu vốn lưu động tự có thì Uỷ ban Nhân dân xem
xét có thể dành một phần hoặc dành 100% chênh lệch giá để bổ sung vào vốn lưu động tự có cho đơn vị. Các khoản chênh lệch giá được giữ lại nói ở các điểm a, b, c trên đây chỉ để bổ sung vốn lưu động tự có cho đơn vị, nhất thiết không được lấy khoản chênh lệch giá này để chi thêm lương, chia thưởng cho cán bộ công nhân viên hoặc tăng thêm vốn xây dựng cơ bản ngoài kế hoạch... 3/ Đơn vị nộp chênh lệch giá Các xí nghiệp hạch toán kinh tế, các đơn vị trực thuộc các tổng công ty, liên hiệp xí nghiệp, các đơn vị hạch toán toàn ngành... có chênh lệch giá phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh, gia công chế biến... đều phải nộp chênh lệch giá vào ngân sách Nhà nước theo quy định ở điểm 1, phần I nói trên. II. XÁC ĐỊNH CHÊNH LỆCH GIÁ 1/ Chênh lệch giá phát sinh lúc nhập kho hàng hoá Chênh lệch giá do giá mua thực tế thấp hơn giá hạch toán hàng tồn kho hoặc ngược lại, bao gồm: a) Chênh lệch giá ở các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu Thuế hàng nhập (nếu có) Hàng nhập do tính theo tỷ giá bình quân thấp, nhưng khi tính giá bán buôn hàng nhập cho từng loại hàng để giao cho các đơn vị sản xuất kinh doanh trong nước cao hơn tỷ giá nói trên nên phát sinh chênh lệch giá hàng nhập. Giá giao hàng nhập (giá bán buôn hàng nhập) Hoa hồng ngoại thương Giá vốn hàng nhập + Mức chênh lệch giá hàng nhập + - = b) Chênh lệch giá mua hàng nhập khẩu so với giá bán buôn vật tư và giá kinh doanh thương nghiệp phát sinh tại các đơn vị kinh doanh nội thương, vật tư trong các trường hợp: - Do giá bán buôn hàng nhập điều chỉnh không kịp thời hoặc tuy có điều chỉnh nhưng giá bán buôn hàng nhập vẫn còn thấp hơn giá kinh doanh thương nghiệp hoặc giá bán buôn vật tư. - Một số mặt hàng được cơ quan ngoại thương xác định giá bán buôn hàng nhập theo lô, kiện hàng hoặc đơn vị trọng lượng... nhưng khi nhập kho tính giá cụ thể cho từng nhóm, mặt hàng nên phát sinh chênh lệch giá: Giá chỉ đạo nhập kho giá KDTN-CKTN giá BBVT-CKVT Mức chênh lệch giá Giá bán buôn hàng nhập - = c) Chênh lệch giá sản xuất gia công hạch toán phụ thuộc. Các đơn vị lưu thông hàng có tổ chức hoạt động sản xuất gia công chế biến phụ thuộc, do chưa thực hiện thu quốc doanh theo quyết định số 188 CT nên có phát sinh khoản chênh lệch giá khi nhập kho hàng hoá. Thuế (nếu có) Mức chênh lệch gia công sản xuất + + - = Lãi định mức Giá thành kế hoạch Giá vốn chỉ đạo nhập kho 2/ Chênh lệch giá khâu bán ra. Chênh lệch giá khâu bán phát sinh trong trường hợp: - Hàng hoá vật tư bán theo chính sách hai giá. - Các đơn vị kinh doanh ăn uống, dịch vụ thuộc các ngành: Nội thương, hàng không, đường sắt, du lịch... có hàng chuyển bán được định giá cao hơn giá nhận hàng. - Các đơn vị kinh doanh thương nghiệp, vật tư bán hàng hoá, vật tư tại thị trường địa phương cao hơn giá mua. (Giá KDTN) (Giá BBVT) Mức chênh lệch giá - = Giá chỉ đạo nhập kho Giá bán thực thu 3/ Chênh lệch giá bán hàng kinh doanh theo giá thoả thuận Chênh lệch giá này phát sinh khi các đơn vị kinh doanh các mặt hàng ngoại chỉ tiêu kế hoạch theo giá mua bán được 2 bên thoả thuận để tăng thêm nguồn hàng, mở rộng lưu chuyển hàng háo. Nhằm khuyến khích hoạt động này, nguồn chênh lệch giá phát sinh được để lại 100% bổ sung vốn lưu động tự có; lợi nhuận định mức của hàng kinh doanh theo giá bán thoả thuận được thực hiện theo hệ số 1,6 lần mức quy định cho cùng nhóm, mặt hàng hoặc mặt hàng tương đương trong kế hoạch. Riêng khoản chi phí lưu thông được xác định mức chi phí hợp lý, nhưng cũng không quá 1,6 lần phí hàng trong kế hoạch). III. BIỆN PHÁP KÊ KHAI THU NỘP Các đơn vị sản xuất kinh doanh, trường hợp vừa có phát sinh các khoản chênh lệch giá phải nộp, vừa có các khoản chênh lệch giá phải bù thì được lấy số chênh lệch giá phải nộp ngân sách Nhà nước để bù số chênh lệch giá phải bù; số chênh lệch giá còn lại phải nộp đầy đủ vào ngân sách Nhà nước. Việc lấy chênh lệch giá phải nộp ngân sách để bù chênh lệch giá phải bù cần khi vào kế hoạch tài chính hàng năm, hàng quý và được sự thoả thuận của cơ quan tài chính cùng cấp. Hàng tháng, hàng quý đơn vị phải lập bảng kê chênh lệch giá phải nộp, chênh lệch giá được bù trù, số thực tế đã bù trừ thanh quyết toán với cơ quan tài chính. Biện pháp kê khai thu nộp các loại chênh lệch giá cụ thể như sau: 1/ Kê khai nộp chênh lệch giá phát sinh khâu nhập kho.
Căn cứ vào giá mua, giá thành kế hoạch, giá hạch toán nhập kho... kế toán định khoản ngay trên từng hoá đơn mua hàng kiểm phiếu nhập kho khoản chênh lệch giá phải nộp, phải bù. Mỗi tháng 2 lần, kế toán lập bảng kê nộp chênh lệch giá (sau khi đã trừ số phải bù theo chế độ), làm tờ khai kiểm kê uỷ nhiệm chi nộp ngân sách Nhà nước gửi ngân hàng phục vụ xí nghiệp để ngân hàng trích nộp ngân sách Nhà nước. Về nguyên tắc, chênh lệch giá khâu mua được nộp khi nhập kho hàng hoá. Trường hợp xí nghiệp do quá thiếu vốn lưu động, nhng ngân hàng chưa có khả năng cho vay thì có thể bàn bạc để cơ quan thu quốc doanh chấp thuận cho kê khai nộp khi bán hàng thu tiền về. 2/ Kê khai nộp chênh lệch giá khi bán hàng.
Căn cứ vào báo cáo tiêu thụ hàng hoá, kế toán xác định chênh lẹch giá phải nộp, chênh lệch giá phải bù (nếu có), lập bảng kê theo mặt hàng hoặc nhóm hàng nộp ngân sách Nhà nước, gửi ngân hàng Nhà nước theo định kê 10 ngày 1 lần.
Căn cứ vào tiền bán hàng thu được, ngân hàng trích khoản chênh lệch giá nộp ngân sách Nhà nước. IV. TRÁCH NHIỆM CỦA XÍ NGHIỆP, CƠ QUAN CHỦ QUẢN VÀ CƠ QUAN TÀI CHÍNH 1/ Trách nhiệm của xí nghiệp. Các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng nộp chênh lệch giá có trách nhiệm kê khai và nộp chênh lệch giá vào ngân sách Nhà nước theo đúng chế độ quy định. Các trường hợp được giữ lại chênh lệch giá phải nộp để bù số được cấp phải thanh quyết toán kịp thời với cơ quan tài chính. 2/ Trách nhiệm của cơ quan chủ quản. Cơ quan chủ quản của xí nghiệp, có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc xí nghiệp chấp hành nghiêm chỉnh chế độ nộp chênh lệch giá được quy định tại Thông tư này. Việc cụ thể hoá chế độ tài chính để phù hợp với hướng dẫn hạch toán của ngành... có ảnh hưởng đến chế độ nộp chênh lệch giá đều có sự bàn bạc thống nhất với cơ quan tài chính cung cấp. 3/ Trách nhiệm của cơ quan tài chính. Nắm chắc các sản phẩm hàng hoá, vật tư có chênh lệch giá phát sinh và kiểm tra hoá đơn nhập khi, hoá đơn bán hàng, bảng kê chênh lệch giá nộp, chênh lệch giá cấp bù, thực hiện lập biên bản kiểm tra thu nộp và xử lý việc vi phạm kỷ luật thu nộp; ra lệnh thu, lệnh phạt theo chế độ hiện hành; giúp đỡ xí nghiệp trong việc lập kế hoạch, tổ chức hạch toán (kể cả hàng trong kế hoạch, hàng thoả thuận), tiêu thụ, thanh toán, kiểm tra đôn đốc thu nộp, tạo điều kiện cho các đơn vị sản xuất kinh doanh thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước theo đúng chế độ. V. - ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày ký. Chế độ thu chênh lệch giá quy định tại Thông tư 59 TC/TQD ngày 6/11/1987 của Bộ Tài chính và các quy định của các Bộ, các ngành, địa phương trái với thông tư này không còn hiệu lực thi hành./.