THÔNG TƯ Hướng dẫn việc quản lý và điều hành qũy ngoại tệ tập trung của nhà nước Để xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan tài chính và Ngân hàng trong việc qủan lý và điều hành quỹ ngoại tệ tập trung của Nhà nước,
sau khi trao đổi thống nhất với Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng ngoại thương Trung ương), Bộ Tài chính tạm thời hướng dẫn một số điểm như sau: A. QUY ĐỊNH CHUNG: Các khoản thu, chi ngoại tệ thuộc quỹ ngoại tệ tập trung của Nhà nước đều được hạch toán vào tài khoản 120 "Tiền gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước "mở tại Ngân hàng Ngoại thương Trung ương. Tài khoản nói trên được mở và theo dõi riêng cho ngoại tệ tự do chuyển đổi và riêng cho Rúp chuyển nhượng. Để Bộ Tài chính có điều kiện quản lý, phân tích được từng nguồn thu thuộc quỹ ngoại tệ Nhà nước, tài khoản tiền gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước được mở theo các tiểu khoản chi tiết sau đây: 120- 001 thu ngoại tệ về mậu dịch 120-002 thu ngoại tệ về vay nợ 120-003 thu ngoại tệ về viện trợ 120-004 thu ngoại tệ về hợp tác lao động và chuyên gia 120- 005 thu ngoại tệ về phi mậu dịch 120- 006 các khoản thu khác bằng ngoại tệ. Các nguồn thu phải hạch toán đúng vào các tiểu khoản đã quy định trên, còn khi chi ra từ nguồn nào phải được chủ tài khoản quyết định. Tài khoản tiền gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước nói trêncũng như các tiểu khoản của tài khoản này đều được hạch toán nguyên tệ, không hạch tóan đổi giá bằng đồng Việt nam. Tài khoản tiền gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước được mở tại Ngân hàng Ngoại thương Trung ương và ở tất cả các chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Việt nam. Chế độ mở tài khoản tiền gửi quỹ ngoai tệ Nhà nước được quy định như sau: - Tải khoản tiền gửi qũy ngoại tệ Nhà nước do Bộ trưởng Bộ Tài chính làm chủ tài khoản được mở tại Ngân hàng Ngoại thương Việt nam Trung ương. - Tất cả các chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Việt nam chỉ hạch toán chuyển thu vào tài khoản tiền gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước không được hạch toán chi, mọi khoản chi đều được thực hiện ở Ngân hàng Ngoại thương Trung ương. Hàng ngày các chi nhành Ngân hàng Ngoại thương Việt nam phải điện báo và chuyển số thu ngoại têẹ của Nhà nước về Ngân hàng Ngoại thương Trung ương vào tài khoản "tiền gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước"và phân tích đưa vào các tiểu khoản tương ứng của Bộ Tài chính tại Ngân hàng Ngoại thương Trung ương và hàng ngày gửi giấy báo "Có"cho Bộ Tài chính để theo dõi. B.ĐỐI VỚI NGOẠI TỆ TỰ DO CHUYỂN ĐỔI 1) Các nguồn thu ngoại tệ Nhà nước được Ngân hàng Ngoại thương hạch toán vào tài khoản "tiền gửi quỹ Ngoại tệ Nhà nước" bao gồm: - Toàn bộ doanh thu ngoại tệ do xuất khẩu, kinh doanh dịch vụ thu ngoại tệ được Nhà nước cân đối vật tư hàng hoá. - Ngoại tệ do các tổ chức kinh doanh XNK, kinh doanh dịch vụ thuộc các Bộ, ngành , địa phương thực hiện nghĩa vụ bán ngoại tệ cho Nhà nước. - Ngoại tệ do nước ngoài cho Nhà nước vay bằng tiền. - Ngoại tệ do nước ngoài viện trợ bằng tiền (bao gồm cả các khoản viện trợ nhân đạo của các tổ chức quốc tế v.v...) - Các khoản thu ngoại tệ về phi mậu dịch (kể cả việc mua ngoại tệ của các cơ quan đại diện và các tổ chức quốc tế và cá nhân thuộc các tổ chức quốc tế này thường trú tại Việt nam). - Các khoản thu ngoại tệ về hợp tác lao động và chuyên gia. - Các khoản thu ngoại tệ khác như: tiền nộp phạt, tiền phạm pháp bị công an, hải quan tịch thu đã được xử lý, tiền nộp thuế; nộp lệ phí của các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tài Việt nam; tiền hoa hồng do các tổ chức kinh tế và công ty nước ngoài thanh toán cho các tổ chức kinh tế Việt nam ... 2) Quy định về quản lý chi từ tài khoản "tiền gửi qũy ngoại tệ Nhà nước" Nguyên tắc chung trong việc quản lý chi ngoại tệ từ tài khoản"tiền gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước" là
căn cứ theo kế hoạch được Hội đồng Bộ trưởng xét duyệt. Bộ Tài chính thông báo hạn mức chi ngoại tệ hoặc cấp lệnh chi ngoại tệ từng lần cho các Bộ, ngành và địa phương a) Chi theo thông báo hạn mức: Ngân hàng Ngoại thương căn cứ vào hạn mức do Bộ Tài chính thông báo, thực hiện chi trong phạm vi hạn mức đó. Mỗi lần chi ngân hàng gửi giấy báo Nợ cho Bộ Tài chính, có ghi rõ số hạn mức chi do Bộ Tài chính đã duyệt. b) Chi theo lệnh chi ngoại tệ từng lần:
Căn cứ vào lệnh chi do Bộ Tài chính duyệt Ngân hàng Ngoại thương thực hiện chi từng lần và gửi giấy báo Nợ cho Bộ Tài chính theo từng lần đó. Trước mắt, trong khi chưa triển khai được bộ máy quản lý của Bộ Tài chính tại các địa phương, toàn bộ việc chi ngoại tệ theo quy định tại điểm (a) và (b) nói trên đều thực hiện tập trung ở tài khoản "tiền gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước" mở tại Ngân hàng Ngoại thương Trung ương. Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị được Nhà nước cáp ngoại tệ, Ngân hàng Ngoại thương Trung ương có thể căn cứ vào thông báo hạn mức chi ngoại tệ hoặc lệnh chi ngoại tệ của Bộ Tài chính, chuyển số ngoại tệ đã được Bộ Tài chính duyệt về cac chi nhánh Ngân hàng trực thuộc để thực hiện việc chi cho các đơnvị. c) Đối với các khoản chi trả nợ nước ngoài (bao gồm trả nợ gốc và lãi - kể cả lãi quá hạn). Trên cơ sở kế hoạch trả nợ nước ngoài được Nhà nước duyệt, hàng quý Bộ Tài chính và Ngân hàng Ngoại thương Trung ương thoả thuận kế hoạch trả nợ cụ thể cho quý đó, bao gồm trả nợ gốc và nợ lãi (kể cả lãi quá hạn). +Đối với khoản trả nợ gốc cho các tư nhân hoặc cho các tổ chức quốc tế, Bộ Tài chính sẽ phát lệnh chi ngoại tệ từ tài khoản tiền gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước để Ngân hàng Ngoại thương Trung ương chi trả nước ngoài. +Đối với khoản trả nợ lãi (kể cả lãi quá hạn) : do tính chất phức tạp của việc tính lãi phát sinh nên Bộ Tài chính và Ngân hàng Ngoại thương Trung ương cần lập kế hoạch cụ thể hàng quý và dựa trên kế hoạch đã được thoả thuận về các đối tường cần được trả lãi trong quý, Ngân hàng Ngoại thương Trung ương được phép chi trả lãi từ tài khoản "Tiền gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước", sau đó gửi giấy báo Nợ cho Bộ Tài chính để theo dõi. 3) Về mua bán ngoại tệ và tỷ giá mua bán. - Trong tất cả các khoản thu vào tài khoản "tiền gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước"như quy định tại điều (2) nói trên, khoản thu ngoại tệ do các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu, kinh doanh dịch vụ của các Bộ, ngành, địa phương bán nghĩa vụ cho Nhà nước thì Bộ Tài chính chi tiền Việt nam để mua theo tỷ giá do Ngân hàng công bố. Tất cả các khoản thu còn lại của điểm (2) Ngân hàng hạch toán trực tiếp bằng nguyên tệ vào tài khoản "tiền gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước ". - Các tổ chức kinh doanh XNK, kinh doanh dịch vụ, các Bộ, ngành và địa phương được Bộ Tài chính cấp ngoại tệ để chi cho nhu cầu nhập khẩu vật tư, hàng hoá, chi cho hoạt động dịch vụ (nếu có), chi cho đoàn ra công tác ở nước ngoài, kinh phí cho các cơ quan đại diện của Việt nam ở nước ngoài v.v... đều phải bảo tiền Việt nam theo tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm sử dụng ngoại tệ để mua số ngoại tệ được Bộ Tài chính cấp phát. -Để thuận tiện cho hệ thống Ngân hàng Ngoại thương trong việc tổ chức mua bán ngoại tệ của Nhà nước, việc mua bán ngoại tệ và hạch toán được quy định như sau: + Bộ Tài chính mở tài khoản "tiền gửi thanh toán bằng đồng Việt nam "tại Ngân hàng Ngoại thương Trung ương. Tài khoản này được hạch toán như sau: - Bên Có : Ghi số tiền Việt nam thu được do bán ngoại tệ cho các Bộ, ngành, địa phương và số tiền Bộ Tài chính chuyển từ quỹ Ngân sách vào tài khoản để mua ngoại tệ. Để giúp Bộ Tài chính theo dõi được từng nguồn thu do bán ngoại tệ, Ngân hàng Ngoại thương ghi rõ trên chứng từ theo từng nội dung cụ thể như: bán ngoại tệ cho nhu cầu nhập khẩu, cho nhu cầu chi của các sứ quán ở nước ngoài, cho đoàn đi công tác nước ngoài, cho các khoản nộp niên liễm của các tổ chức kinh tế Việt nam cho các tổ chức kinh tế nước ngoài, cho nhu cầu thanh toán dịch vụ v.v... Bên Nợ : Ghi số tiền cụ thể từng khoản phải thanh toán cho các Bộ, ngành, địa phương để mua số ngoại tệ mà các Bộ, ngành, địa phương bán nghĩa vụ cho Nhà nước. Để xử lý mâu thuẫn giữa việc tài khoản chỉ mở tập trung ở Ngân hàng Ngoại thương Trung ương, trong khi đó phát sinh mua ngoại tệ lại xảy ra ở hầu hết các chi nhánh Ngân hàng ngoại thương, Bộ Tài chính và Ngân hàng Ngoại thương Trung ương thống nhất thực hiện như sau: Các chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương được dùng vốn tín dụng để mua ngoại tệ về nghĩa vụ của các Bộ, ngành và địa phương rồi chuyển nó về cho Ngân hàng Ngoại thương , Ngân hàng Ngoại thương Trung ương ghi số ngoại tệ đã mua được vào tài khoản " tiền gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước", đồng thời ghi Nợ vào tài khoản "tiền quỹ thanh toán bằng đồng Việt nam "số tiềnV Việt nam tương ứng với số ngoại tệ đã mua để chuyển trả lại cho chi nhánh Ngân hàng Ngoịa thương cơ sở. Về nguyên tắc tài khoản"Tiền gửi thanh toán bằng đồng Việt nam"luôn dư "Có". Song trong trường hợp cần thiết tài khoản này được phép dư Nợ tới mức 1 tỷ đồng trong thời hạn tối đa là 7 ngày, Số dư Có hoặc số dư Nợ của tài khoản này đều được hưởng hoặc chịu lãi suất theo lãi suất Ngân hàng quy định. 4)Về chế độ báo cáo Để Bộ Tài chính thường xuyên nắm được hoạt động thu chi trên các tài khoản "tiền gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước và "tiền gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước và tài khoản "tiền gửi thanh toán bằng đồng Việt nam". Bộ Tài chính trực tiếp nhận các chứng từ nói trên tại Ngân hàng Ngoại thương Trung cần - Tập trunghàng ngày và gửi cho Bộ Tài chính một liên chứng từ của Ngân hàng ghi"Nợ "và ghi "Có " của các tài khoản "tiêng gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước và tài khoản "tiền gửi thanh toán bằng đồng Việt nam". Bộ Tài chính trực tiếp nhận các chứng từ nói trên tại Ngân hàng Ngoại thương Trung ương. - Vào các ngày 10, 20, 30 hàng tháng gửi cho Bộ Tài chính bản sao kê sổ phụ về tình hình thu, chi các tài khoản tiền gửi quỹ Ngoại tệ Nhà nước và tài khoản tiền gửi thanh toán bằng đồng Việt nam. - Hàng quý gửi cho Bộ Tài chính báo cáo tổng hợp tình hình thực chi trả nợ nước ngoài theo kế hoạch trả nợ hàng quý mà hai bên đã thoả thuận. B.ĐỐI VỚI NGOẠI TỆ RÚP CHUYỂN NHƯỢNG Do tính chất hạn chế trong thanh toán của RCN, do cơ chế thanh toán đối ngoại tập trung và theo kế hoạch nên toàn bộ nguồn thu về RCN hạch toán vào tài khoản"tiền gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước" bằng RCN mở tại Ngân hàng Ngoại thương Trung ương. Tài khoản này cũng hạch toán nguyên tệ, không hạch toán "đối giá"bằng đồng Việt nam. I.QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ TÀI KHOẢN "TIỀN GỬI QUỸ NGOẠI TỆ NHÀ NƯỚC"BẰNG RÚP CHUYỂN NHƯỢNG 1/ Các nguồn thu ngoại tệ RCN được hạch toán vào tài khoản "tiền gửi qũy ngoại tệ Nhà nước"bằng RCN bao gồm: - Khoản ngoại tệ của các ngành kinh doanh XNK và dịch vụ không được cân đối vật tư nhưng được Nhà nước thanh toán bằng tiền Việt nam theo tỷ giá do Nhà nước công bố. - Toàn bộ doanh thu ngoại tệ do xuất khẩu hàng hoá, kinh doanh dịch vụ của các Bộ, ngành, địa phương sang khu vực XHCN (thanh toán tập trung qua Ngân hàng hợp tác kinh tế quốc tế (MBES) được Nhà nước cân đối vật tư. - Toàn bộ khoản vay kỳ hạn của MBES. - Toàn bộ khoản vay nợ, viện trợ ký kết tay đôi giĩa hai Chính phủ được thanh toán qua MBES. - Số dư tài khoản PMD được chuyển vào tài khoản tiền gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước bằng RCN. Những khoản thu nói trên Ngân hàng đều hạch toán nguyên tệ bàng RCN vào tài khoản tiền gửi qũy ngoại tệ Nhà nước bằng RCN và gửi cho Bộ Tài chính giấy "báo Có" ghi cụ thể nguồn thu ngoại tệ do xuất khẩu, do kinh doanh dịch vụ, do vay nợ, viện trợ.v.v... để theo dõi. Riêng "báo Có"về hàng xuất khẩu, kinh doanh dịch vụ Ngân hàng phải đồng gửi giấy sao báo Có đó cho tổ chức xuất khẩu hay dịch vụ để các tổ chức đó theo dõi doanh thu của mình. Các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ đều phải mở tài khoản ngoại tệ để theo dõi kết quả kinh doanh của mình. Tài khỏan này hạch toán như sau: Bên Có : hạch toán doanh thu do xuất khẩu hoặc kinh doanh dịch vụ
Căn cứ để ghi vào tài khoản này là các tờ sao "báo có"về việc nước ngoài đã thanh toán tiền gửi hàng xuất khẩu hoặc dịch vụ của Ngân hàng Ngoại thương gửi đến. Bên Nợ : hạch toán trị giá vật tư nhập khẩu được Nhà nước trả đối với những đơn vị áp dụng cơ chế cân đối vật tư trong số 410 triệu RCN của năm 1989.
Căn cứ đẻ ghi vào tài khoản này là giấy 'báo nợ"bằng ngoại tệ của số vật tư hàng hoá mà các tổ chức nhập khẩu đã giao (theo cơ chế cân đối 410 triệu RCN cho thu mua hàng XK của năm 1989) Hàng quý yêu cầu các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu và dịch vụ gửi báo cáo quyết toán tài khoản nói trên cho Bộ Tài chính và Uỷ ban kế hoạch Nhà nước. Báo cáo quyết toán cần thể hiện rõ các nội dung sau: - Tỷ lệ phần trăm (%) đơn vị nhận vật tư trên doanh thu xuất khẩu do Bộ chủ quản quy định để thu mua hàng xuất khẩu. - Tổng doanh thu xuất khẩu (phát sinh bên có của tài khoản). - Trị giá vật tư đã nhận (phát sinh bên nợ của tài khoản). Ví dụ: Tổng công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ (Bộ Kinh tế đối ngoại) được Bộ Kinh tế đối ngoại cân đối 90% vật tư để thu mua hàng xuất khẩu. Tài khoản ngoại tệ của Tổng công ty tính từ 01/1/1989 đến 31/3/1989 như sau: Phát sinh bên có: 10 triệu RCN. Phát sinh bên nợ: 7 triệu RCN. Như vậy nếu theo định mức cân đối vật tư 90% thì Tổng Công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ phải được nhận vật tư là 9 triệu RCN (10 triệu RCN x 90%). Nhưng thực tế Tổng công ty mới nhận 7 triệu RCN, như vậy Nhà nước (UBKHNN) còn nợ Tổng công ty 2 triệu RCN bằng vật tư. Đối với các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu và kinhdoanh dịch vụ có xuất khẩu hoặc làm dịch vụ cho khu vực XHCN mà không được Nhà nước cân đối vật tư (như xuất khẩu ngoài nghị định thu, xuất vượt kế hoạch, tiền công trong gia công ...) thì toàn bộ doanh thu ngoại tệ của mình (thể hiện bằng toàn bộ sô phát sinh "bên Có " của tài khoản nói trên). Số ngoại tệ này sẽ được Nhà nuơúc mua lại một phần hoặc toàn bộ bằng tiền Việt nam hoặc chỉ mua lại một phần bằng tiền Việt nam phần còn lại sẽ trả lại cho đơn vị bằng vật tư, hàng hoá. Trường hợp số ngoại tệ được xác định thanh toán bằng tiền sẽ thực hiện theo tỷ giá do Nhà nước quy định. 2/ Quy định về các khoản chi từ tài khoản tiền gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước bằng RCN. - Nội dung chi ngoại tệ từ TK"tiền gửi" quỹ ngoại tệ Nhà nước bằng RCN bao gồm: + Chi trả tiền nhập khẩu. + Bồi thường một phần hay toàn bộ tiền hàng xuất khẩu do người mua khiếu nại. +Trả tiền vay kỳ hạn của ngân hàng MBES. + Chi trả tièn lãi suất tiền vay. + Chi chuyển sang tài khoản phi mậu dịch. - Do tính chất "tự động "trong thanh toán MBES, căn cứ vào Telex của MBES báo lô hàng mà ta phải thanh toán ngân hàng Ngoại thương thực hiện rồi ghi Nợ vào tài khoản tiền gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước bằng RCN và báo cho Bộ Tài chính biết. Giấy "báo Nợ" gửi Bộ Tài chính cần được ghi rõ: + Chi trả tiền hàng nhập khẩu cho tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu . + Chi bồi thường hàng xuất khẩu cho tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu. + Chi trả nợ . + Chi trả lãi suất. + Trích chuyển từ tài khoản tiền gửi quỹ ngoại tệ Nhà nước bằng RCN sang tài khoản phi mậu dịch để chi tiêu. II. QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ TÀI KHOẢN THANH TOÁN RÚP CLEARING. 1/ Tài khoản rúp Clearing song biên áp dụng trong thanh toán mậu dịch Trong trường hợp áp dụng phương thưc thanh toán Clearing song biên, ngoại tệ phát sinh được ghi "Có"và ghi "Nợ"vào tài khoản Clearing của Nhà nước. Cơ chế quản lý và thanh toán áp dụng như đối với ngoại tệ RCN thanh toán đã biên qua Ngân hàng MBES. 2/ Tài khoản tiền gửi của Nhà nước về phi mậu dịch a) Mở tài khoản : Bộ Tài chính mở tài khoản tổng hợp tại Ngân hàng Ngoại thương Trung ương để quản lý mọi hoạt động thu chi phi mậu dịch giưã Việt nam với tất cả các nước XHCN theo Hiệp định về thanh toán phi mậu dịch hiện hành. Tài khoản "Tiền gửi ngoại tệ phi mậu dịch "của Bộ Tài chính đựơc hạch toán như sau: - Bên Có: Phản ánh toàn bộ các nguồn thu về phi mậu dịch, kể cả nguồn ngoại tệ trích từ tài khoản tiền gửi quỹ ngoại tệ bằng RCN chuyển sang. Bên Nợ: Ghi toàn bộ các khoản chi ngoại tệ phi mậu dịch theo lệnh chi của Bộ Tài chính (Bộ Tài chính cấp lệnh chi ngoại tệ phi mậu dịch dựa theo kế hoạch chi ngoại tệ phi mậu dịch hàng năm được Hội đồng Bộ trưởng duyệt). b) Các đơn vị trong nước được Bộ Tài chính cấp lệnh chi ngoại tệ phi mậu dịch đều phải chuyển tiền Việt nam để mua số ngọai tệ được cấp theo tỷ gía mậu dịch được thoả thuận với nước ngoài. Khi thực hiện nghiệp vụ này, Ngân hàng Ngoại thương gửi cho Bộ Tài chính một giấy "Báo Nợ"về việc đã rút tiền từ tài khoản tiền gửi ngoại tệ phi mậu dịch và một giấy "báo Có"về việc đơn vị trong nước trả tiền mua ngoại tệ đó. Số tiền Việt nam thu được Ngân hàng Ngoại thương chuyển nộp vào tài khoản "Tiền gửi thanh toán bằng đồng Việt nam "của Bộ Tài chính tại Ngân hàng Ngoại thương Trung ương. c) Để đảm bảo thuận tiện trong quan hệ thanh toán giưã Việt nam với một trong các nước tham gia Hiệp định thanh toán phi mậu dịch và với các nước thanh toán phi mậu dịch song biên với ta, Ngân hàng Ngoại thương Trung ương sẽ mở tài khoản thanh toán phi mậu dịch với từng nước có quan hệ thanh toán phi mậu dịch với Việtnam để theo dõi hoạt động thu chi này. Số tiền được chuyển vào tài khoản phi mậu dịch của Nhà nước ta ở các nước để sử dụng, Ngân hàng Ngoại thương sẽ thực hiện theo lệnh chi của Bộ Tài chính. Cuối năm, khi quyết toán tài khoản tổng hợp tiền gửi ngoại tệ phi mậu dịch, Bộ Tài chính sẽ trao đổi cụ thể với Ngân hàng về biện pháp xử lý trong trường hợp tài khoản này có số "dư nợ"hoặc "dự có". Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989 Trong quá trình thực hiện , nếu còn vướng mắc, Ngân hàng và các Tổng Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu và dịch vụ sẽ trao đổi với Bộ Tài chính để bổ sung kịp thời./.