THÔNG TƯ LIÊN BỘ Hướng dẫn thực hiện chế độ thu nộp ngân sách nhà nước và bảo toàn vốn đối với thương nghiệp quốc doanh. Thi hành quyết định số 217/HĐBT ngày 14/11/1987 của Hội đồng Bộ trưởng về các chính sách đổi mới kế hoạch hoá và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghiã đối với các xí nghiệp quốc doanh và quyết định số 183/HĐBT ngày 20/12/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về việc giải quyết một số vấn đề nhằm đổi mới hoạt động của thương nghiệp quốc doanh, trong khi chờ Nhà nước ban hành chính sách thuế đối với các xí nghiệp quốc doanh, Liên Bộ Tài chính - Nội thương tạm thời hướng dẫn chế độ thu nộp ngân sách Nhà nước và bảo toàn vốn đối với các tổ chức thương nghiệp quốc doanh. I. THU NỘP NGÂN SÁCH 1. Nguyên tắc: Các đơn vị thương nghiệp quốc doanh có nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước đồng thời bảo toàn được vỗn, phát triểnkinh doanh và bảo đảmthu nhập chính đáng của người lao động trên cơ sởnăng suất, chất lượng và hiểu quả.Để các xí nghiệp thương nghiệp quốc doanh tự chủ trong kinh doanh và tự chủ về tàichính, ngoài thu quốc doanh, thuế, chênh lệch giá theo chế độ thu nộp hiện hành, Liên bộ quy định tạm thời hình thức thu lợi nhuận theo tỷ lệ ổn định tính trên doanh số bán hàng thay cho chế độ phân phối lợi nhuận hiện hành, áp dụng riêng đối với hoạt động lưu thông thương nghiệp, hạch toán kinh tế độc lập. Việc hạch toán giảm doanh số bán để giảm mức nộp ngân sách thì ngoàiviệc xử lý theo pháp lệnh kế toán - thống kê, xí nghiệp còn bị phạt theo quy định của Nhà nước. Kinh doanh ăn uống, dịch vụ, sản xuất, vận tải, xây lắp... hạch toán kinh tế độc lập trong ngành nội thương vẫn thực hiện theo các chế độ thu nộp hiện hành. 2. Tỷ lệ thu ổn định lợi nhuận tính trên doanh số bán hàng: Lợi nhuận để xuác định nộp theo tỷ lệ trên doanh số bán hàng bao gồm toàn bộ các khoản lợi nhuận của đơn vị lưu thông thương nghiệp, hạch toán kinh tế độc lập (lợi nhuận kinh doanh cơ bản và ngoài cơ bản) Để các ngành, các địa phương có thể quy định một tỷ lệ nộp lợi nhuận hợp lý, sát với điều kiện kinh doanh của từng xí nghiệp đồng thời thúc đẩy các xí nghiệp thương nghiệp quốc doanh kinh doanh có hiệu quả. Liên Bộ quy định khung thu lợi nhuận trên doanh số bán hàng thực hiện tối thiểu là 1%, tối đa là 3%. Trường hợp đặc biệt, đối với xí nghiệp thương nghiệp quốc doanh kinh doanh trong điều kiện thuận lợi có doanh lợi cao thì có thể thu với mức cao hơn, nhưng cao nhất không quá 4%. Ngược lại, đối với xí nghiệp thương nghiệp quốc doanh kinh doanh trong điều kiện khó khăn mà doanh lợi thấp thì có thể thu với mức thấp hơn, nhưng thấp nhất không dưới 0,5% doanh số bán thực hiện. Tăng thu hay giảm thu so với khung tối thiểu - tối đa nói trên là do Sở Tài chính và sở chủ quản trình UBND tỉnh, thành phố, đặc khu quyết định đối với các đơn vị thương nghiệp quốc doanh địa phương. Các đơn vị thương nghiệp quốc doanh Trung ương thì Bộ chủ quản bàn với Bộ Tài chính xử lý từng trường hợp cụ thể. 3 .
Căn cứ xác định tỷ lệ thu ổn định lợi nhuận tính trên doanh số bán hàng. Để xác định được tỷ lệ thu ổn định lợi nhuận trên doanh số bán hàng cần đưa vào các
căn cứ sau đây: - Tình hình thực hiện lợi nhuận và nộp lợi nhuận qua một số năm, đặc biệt năm 1988, có phần tích tích loại trừ các khoản thực chất không phải là lợi nhuận và cộng thêm các khoản lợi nhuận không thể hiện ở kết quả cuối cùng. - Nhiệm vụ kế hoạch năm 1989 (Bao gồm cả kinh doanh và sản xuất phụ thuộc) - Nguồn vốn tự có của đơn vị cao hay thấp so với vốn lưu động định mức. - Địa bàn hoạt động và số lao động thực tế.... Từ đó tính ra nguồn lợi nhuận kế hoạch và phần lợi nhuận trích nộp ngân sách theo thông tư 78 TC/CN ngày 31/12/1987 và 12 TC/CN ngày 25/3/1988 của Bộ Tài chính quy trở lại tính trên doanh số bán hàng theo kế hoạch để tìm ra tỉ lệ phần trăm (%) thu ổn định lợi nhuận trên doanh số và phải bảo đảm nằm trong khung nói trên. II. BẢO TOÀN VỐN LƯU ĐỘNG TỰ CÓ 1. Do giá mua hàng hoá còn tiệp tục biến động theo xu hướng tăng lên, trong khi chờ nhà nước có quyết định đánh giá lại vốn và tài sản của các xí nghiệp quốc doanh, xí nghiệp có trách nhiệm bảo toàn vốn lưu động tự có nhằm trước hết bảo đảm số vốn lưu động tự có cuối kỳ ít nhất cũng đủ để dự trữ một lượng hàng hoá tương đương đầu kỳ. Việc bảo toàn vốn lưu động tự có là 1 nguyên tắc bắt buộc (nếu giá mua tăng) đối với xí nghiệp, không loại trừ bất cứ trường hợp nào, kể cả trường hợp xí nghiệp đã có vốn lưu động tự có bằng 100% vốn lưu động định mức cần thiết. 2. Ngoài bảo toàn vốn lưu động tự có: Ngoài việc bổ sung vốn lưu động bằng khoản chênh lệch giá hàng tồn kho theo chế độ hiện hành, sau khi đã đảm bảo số nộp tích luỹ cho Ngân sách nếu còn thiếu xí nghiệp được bổ sung thêm để bảo toàn vốn lưu động tự có từ phần lợi nhuận để lại cho xí nghiệp. Cách xác định như sau: Xí nghiệp căn cứ vào chỉ số biến động giá của các mặt hàng kinh doanh trong thời kỳ đã qua do các ngành chức năng hoặc do cấp trên công bố để tính mức bổ sung bảo toàn vốn. Nếu kinh doanh một mặt hàng thì lấy chỉ số giá của mặt hàng đó: Nếu kinh doanh nhiều mặt hàng thì lấy chỉ số giá bình quân chung hay bình quân giá quyền của một số mặt hàng chủ yếu.Đối với đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu tự cân đối thì dùng ngoại tệ để tính bảo toàn vốn: Công thức tính bảo toàn vốn: Mức bảo toàn Vốn LĐ Chỉ số tăng Vốn LĐ Vốn LĐ tăng thêm VLĐ tự có từ = tự có X giá hàng hoá- tự có- từ CL giá tồn kho lợi nhuậnđầu kỳ đầy kỳ trong kỳ. Mức bổ sung bảo toàn vốn lưu động tự có được thực hiện từng tháng, quý, năm, nếu có trượt giá ở từng thời điểm. III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Trên cơ sở kế hoạch nộp ngân sách Nhà nước hàng năm do Hội đồng Bộ trưởng giao cho Bộ Nội thương (đốivới Tổng CT và công ty trung ương, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương giao cho Sở thương nghiệp (đối với địa phương); Bộ và Sở chủ quản với sự tham gia của cơ quan tài chính cung cấp giao cụ thể mức thu và tỷ lệ thu lợi nhuận trên doanh số bán hàng cho xí nghiệp trực thuộc. 2. Toàn bộ lợi nhuận thực hiện sau khi trừ (-) các khoảnphải nộp ngân sách Nhà nước, trừ (-) mức bổ sung bảo toàn vốn lưu động tự có là tổng thu nhập của xí nghiệp Tổng thu nhập sau khi trừ quỹ lương dự toán cả năm theo chế độ thống nhất của Nhà nước, phần còn lại phân phối vào 3 quỹ theo quy định tại thông tư số 78 TC/CN ngày 31/12/1987 của Bộ Tài chính. IV. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Thông tư này có hiệu lực thi hành từ 1/1/1989, các quy định trước đây của Bộ Tài chính và quy định của các Bộ, các ngành trái với thông tư này đều bãi bỏ. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị các ngành, các địa phương phản ánh về Liên Bộ Tài chính - Nội thương để nghiên cứu giải quyết.