THÔNG TƯ Hướng dẫn quản lý vốn mua gạo xuất khẩu lấy ngoại tệ dự trữ nhà nước Thi hành quyết định số 169/CT ngày 21/6/1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về xuất khẩu gạo lấy ngoại tệ dữ trữ Nhà nước, Bộ Tài chính hướng dẫn một số vấn đề cụ thể như sau: I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Tổng Công ty lương thực Trung ương, Công ty lương thực các tỉnh hoặc các Công ty XNK (dưới đây gọi tắt là các đơn vị), được cấp tiền mua gạo xuất khẩu nộp ngoại tệ dự trữ Nhà nước phải có đủ các điều kiện sau đây: 1. Có đủ tư cách pháp nhân, được Uỷ ban Nhân dân tỉnh bảo lãnh và phải ký hợp đồng kinh tế với Bộ Tài chính. 2. Chỉ được sử dụng tiền cấp phát vào việc mua thóc thưà của dân nhằm một mặt tạo điều kiện cho dân tiếp tục tái sản xuất, mặt khác phải bảo đảm xuất khẩu được gạo và nộp đủ số ngoại tệ cho Nhà nước. 3. Nghiêm chỉnh chấp hành chính sách, chế độ của Nhà nước về quản lý xuất nhập khẩu lương thực nói chung và xuất khẩu gạo lấy ngoại tệ dự trữ cho Nhà nước nói riêng. II. CÁC QUY ĐỊNH CỤ THỂ 1. Định mức giá vốn xuất khẩu gạo và nghĩa vụ nộp ngoại tệ cho Nhà nước
Điều 2 quyết định sô 169/CT ngày 21/6/1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã quy định: giá thóc mua để xuất khẩu khoảng từ 250đ/kg đến 300đ/kg tuỳ theo khu vực và chất lượng thóc, chống tranh mua đẩy giá thị trường lên cao. - Nhà nước định mức giá vốn xuất khẩu (giá FOB) đối với gạo chuẩn 35% tấm tối đa là 730.000đ/tấn kể cả phí dịch vụ Ngân hàng 0,255. Nếu đơn vị nào quản lý giá mua và phí lưu thông tốt mà giá vốn thực tế thấp hơn 730.000đ/tấn thì số tiết kiệm được để lại bổ sung vốn cho đơn vị. - Nhà nước định mức số ngoại tệ phải nộp Nhà nước của loại gạo 35% tấm là 225đola Mỹ tấn. Nếu đơn vị nào tìm được thị trường xuất khẩu với giá cao hơn thì phần tăng thêm so với định mức cũng được bổ sung vào quỹ ngoại tệ tự có của đơn vị. Trong thực tế, các đơn vị có thể xuất nhiều loại gạo khác nhau (loại 20%, 25%, 45% tấm ...) là tuỳ theo điều kiện cụ thể của địa phương. Nhưng cứ nhận của Bộ Tài chính 730.000đ/tấn thì đơn vị phải có trách nhiệm nộp cho Trung ương 225 đô la Mỹ/1 tấn.
Căn cứ vào số tiền đơn vị thực nhận để xác định nghĩa vụ của đơn vị nộp ngoại tệ cho Trung ương. Thơì gian nộp ngoại tệ tối đa không quá 90 ngày kể từ ngày đơn vị rút tiền taị Ngân hàng, quá thời hạn phải chịu phạt 0,2% trên số tiền nộp chậm. Các đơn vị nộp ngoại tệ dự trữ cho Trung ương vào tài khoản 37.0.120.0.009 mở tại Ngân hàng Ngoại thương thành phố Hồ Chí Minh. Ngân hàng Ngoại thương có trách nhiệm quản lý chặt chẽ số ngoại tệ này, tuần kỳ thông báo cho Bộ Tài chính biết số ngoại tệ đã được nộp vào tài khoản và chỉ được sử dụng khi có lệnh của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. 2. Nguồn vốn mua gạo xuất khẩu nộp ngoại tệ vào quỹ dự trữ Nhà nước
Điều 1, quyết định số 169/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã quy định toàn bộ số vốn phát hành cho thu mua gạo xuất khẩu lấy ngoại tệ dự trữ cho Nhà nước giao cho Bộ Tài chính quản lý và sử dụng.
Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm làm thủ tục chuyển số vốn trên vào tài khoản của ngân sách nhà nước; đồng thời có kế hoạch và biện pháp điều chuyển tiền kịp thời đầy đủ cho các Ngân hàng địa phương theo các hợp đồng đã ký với Bộ Tài chính. Vì là nguồn vốn phát hành nên trong quá trình nhận vốn (kể cả số tiền đã nhận của Ngân hàng dưới hình thức tín dụng) đơn vị chỉ phải trả 1 lần khoản dịch vụ phí 0,25% cho Ngân hàng (tính trên sô tiền thực nhận). Khoản chi này đơn vị hạch toán vào giá vốn gạo xuất khẩu.
3. Ký kết hợp đồng kinh tế và cấp phá t
Căn cứ quyết định của Ban điều hành xuất khẩu gạo Trung ương và sự bảo lãnh của Uỷ ban Nhân dân các địa phương, Bộ Tài chính ký kết hợp đồng kinh tế với từng Tổng Công ty, Công ty lương thực, Công ty XNK được giao nhiệm vụ xuất khẩu gạo lấy ngoại tệ dự trữ Nhà nước.
Căn cứ vào các hợp đồng được ký kết và tiến độ thực hiện hợp đồng, Bộ Tài chính cấp lệnh chi tiền trực tiếp vào tài khoản của các đơn vị đã ký hợp đồng.
Ngân hàng Nhà nước làm thủ tục nhanh chóng, tạo điều kiện cho các đơn vị nhận đầy đủ, kịp thời số tiền ghi trên lệnh chi tiền.
Mười ngày một lần, các đơn vị có trách nhiệm báo cáo tình hình thu mua, xuất khẩu gạo và sử dụng số vốn đã nhận cho Bộ Tài chính và Ban điều hành xuất khẩu gạo Trung ương biết.
Về số tiền Ngân hàng đã cho các đơn vị vay dưới hình thức tín dụng trước khi có quyết định số 169/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước sẽ cùng với đơn vị làm thủ tục bàn giao chuyển từ hình thức tín dụng sang cấp phát tài chính.
4. Một số chế độ ưu đãi
a- Đối với dịch vụ xuất khẩu gạo lấy ngoại tệ dự trữ Nhà nước
Ngoài việc sử dụng vốn không phải trả lãi, được để lại khoản tiết kiệm tiền Việt nam và phần tăng thêm qua số ngoại tệ thực thu so với định mức như đã quy định trên, các đơn vị còn được miễn không phải nộp thuế xuất khẩu gạo.
Để có căn cứ cho việc miễn thuế đúng đối tượng, các đơn vị khi xuất khẩu gạo phải kê khai rõ số gạo nào xuất khẩu lấy ngoại tệ nộp vào quỹ dự trữ Nhà nước, số gạo nào để trả nợ nước ngoài và số gạo nào là xuất khẩu kinh doanh bình thường. Tờ khai nói trên phải nộp cho Bộ Tài chính, cơ quan Hải quan và Bộ Kinh tế đối ngoại.
b- Đối với các dịch vụ xuất khẩu gạo kinh doanh khác.
Các đơn vị xuất khẩu gạo được giảm 50% thuế xuất khẩu gạo theo thuế suất hiện hành.
5. Thanh lý hợp đồng
Bộ Tài chính sẽ phối hợp với Ban điều hành xuất khẩu gạo Trung ương thanh lý hợp đồng đối với từng đơn vị. Nội dung việc thanh lý hợp đồng là: xác định số tiền từng đợt đơn vị đã được Bộ Tài chính cấp phát, số ngoại tệ đơn vị phải nộp và đã nộp cho Trung ương, số tiền và số ngày nộp chậm, mức phạt (nếu có).
Nếu một trong hai bên vi phạm hợp đồng đã ký thì xử lý theo luật hợp đồng kinh tế hiện hành.
Sau khi kết thúc toàn bộ công tác xuất khẩu gạo lấy ngoại tệ dự trữ Nhà nước, Bộ Tài chính và Ban điều hành xuất khẩu gạo Trung ương sẽ tổng hợp quyết toán, báo cáo Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
Trên đây Bộ Tài chính hướng dẫn một số vấn đề về quản lý vốn xuất khẩu gạo và nộp ngoại tệ cho Nhà nước theo quyết định số 169/CT ngày 21/6/1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Trong quá trình thực hiện, nếu có gì mắc mứu, khó khăn, đề nghị Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, các đơn vị phản ảnh cho Bộ Tài chính biết để nghiên cứu giải quyết ./.