THÔNG TƯ Hướng dẫn thi hành nghị Quyết số 186/HĐBT ngày 27/11/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương. Thực hiện điểm 3, mục III Nghị quyết số 186/HĐBT ngày 27/11/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương, Bộ Tài chính hướng dẫn một số điểm cụ thể sau đây: I. CÁC YÊU CẦU CỦA CHẾ ĐỘ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CHO ĐỊA PHƯƠNG Nghị quyết số 186/HĐBT ngày 27/11/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương đã đề ra các yêu cầu cơ bản của chế độ phân cấp quản lý ngân sách là: - Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ, - Bảo đảm tính thống nhất của nền tài chính quốc gia. - Chính quyền Nhà nước các cấp phải coi việc quản lý chặt chẽ thu chi ngân sách Nhà nước là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để chống lạm phát; ổn định và phát triển kinh tế xã hội. 1/ Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ: Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng quản lý kinh tế của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Quán triệt nguyên tắc này trong việc phân cấp quản lý ngân sách cho các địa phương được thể hiện cụ thể như sau: - Quốc hội quyết định cuối cùng về ngân sách Nhà nước và phê chuẩn tổng quyết toán ngân sách Nhà nước. - Hội đồng Bộ trưởng thông qua các Bộ, Uỷ ban Nhà nước các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương tổ chức thực hiện dự toán ngân sách Nhà nước. - Chính quyền địa phương các cấp có quyền chủ động xây dựng và bảo vệ kế hoạch thu chi ngân sách hàng năm với cấp trên.
Sau khi kế hoạch được duyệt và giao chính thức, chính quyền địa phương các cấp có nhiệm vụ tổ chức chỉ đạo thực hiện, hoàn thành tốt mọi chỉ tiêu kế hoạch về thu, chi ngân sách. 2/ Bảo đảm tính thống nhất của nền tài chính quốc gia . - Nhà nước Trung ương ban hành các cơ chế, chính sách, định mức, chế độ thu chi tài chính áp dụng thống nhất trong cả nước. Uỷ ban Nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc và hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện đối với các cơ quan Nhà nước, các đơn vị thuộc các thành phần kinh tế đóng trên địa bàn. - Chính quyền Nhà nước các cấp không được tự ý ban hành các chính sách, chế độ tài chính riêng trái với qui định của Trung ương. Phải thực hiện nhiệm vụ chi ngân sách theo kế hoạch, chính sách, chế độ tài chính do Trung ương qui định thống nhất với hiệu qủa cao. Mọi khoản thu chi của Nhà nước đều phải được phản ánh đầy đủ, kịp thời, trung thực vào ngân sách Nhà nước. - Uỷ ban Nhân dân tỉnh phải thực hiện đúng tỷ lệ điều tiết các nguồn thu giữa các cấp ngân sách quy định tại Nghị quyết số 186/HĐBT ngày 27/11/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương. 3/ Chính quyền Nhà nước các cấp phải coi việc quản lý chặt chẽ thu chi ngân sách Nhà nước là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để chống lạm phát, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay . - Chính quyền Nhà nước các cấp phải coi trọng việc tổ chức chỉ đạo, kiểm tra công tác quản lý và thu thuế, thu đúng thu đủ, chống thất thu, chấp hành nghiêm chỉnh các luật, pháp lệnh về thuế, không được miễn giảm thuế tràn lan trái với quy định của Nhà nước. - Lường thu mà chi, thực hiện triệt để tiết kiệm chi và nâng cao hiệu qủa mọi khoản chi; bồi dưỡng, khai thác mọi nguồn thu trên địa bàn, tăng thu để đảm bảo các nhu cầu chi hợp lý và nâng mức đóng góp với ngân sách Trung ương để góp phần chống lạm phát, đáp ứng các nhu cầu tăng chi của cả nước. Nghị quyết này đã phân định rõ nhiệm vụ chi, cơ chế hình thành các nguồn thu, các nguyên tắc điều hành ngân sách cho chính quyền Nhà nước ở địa phương, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương (dưới đây gọi tắt là tỉnh) huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi tắt là huyện) và xã, phường, thị trấn (gọi tắt là xã). II. NHIỆM VỤ CHI CỦA NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG. Nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương bao gồm: 1/ Chi đầu tư xây dựng cơ bản : Chi cấp phát vốn xây dựng các công trình kinh tế, văn hoá của địa phương được Hội đồng Bộ trưởng (hoặc uỷ nhiệm cho Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ Tài chính )
xét duyệt. Như vậy vốn xây dựng cơ bản trong ngân sách địa phương trước đây bao gồm 2 nguồn: nguồn vốn tập trung của ngân sách Trung ương chuyển về và nguồn địa phương bố trí bằng một số khoản thu chỉ định (sổ số kiến thiết, công trái xây dựng Tổ quốc, kết dư ngân sách địa phương... ). Từ nay trở đi được thống nhất vào một mối, cân đối ngay vào ngân sách địa phương tư đầu năm và được bảo đảm trước hết bằng các nguồn thu tại chỗ, bảo đảm cho địa phương được chủ động trong xây dựng kế hoạch và điều hành vốn xây dựng cơ bản. Hàng năm, Uỷ ban Nhân dân tỉnh lập kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản của địa phương bao gồm cả vốn đầu tư xây dựng vùng kinh tế mới, định canh định cư và sắp xếp danh mục công trình theo thứ tự ưu tiên trình Hội đồng Bộ trưởng, đồng kính gửi Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ Tài chính căn cú vào kế hoạch tổng mức đầu tư xây dựng cơ bản trong ngân sách Nhà nước xét duyệt và dự kiến giao kế hoạch giá trị khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành trong năm kèm theo danh mục các công trình trọng điểm. Bộ Tài chính căn cứ dự kiến của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước để lập kế hoạch cấp phát vốn và ghi vào kế hoạch chi ngân sách địa phương. 2/ Chi sự nghiệp kinh tế : Ngoài nhiệm vụ đảm bảo vốn cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế do địa phương quản lý từ trước như: - Sự nghiệp nông, lâm, ngư nghiệp. - Sự nghiêp thuỷ lợi, đê điều, - Sự nghiệp giao thông vận tải, - Kiến thiết thị chính, nhà ở và công trình công cộng. - Các hoạt động sự nghiệp kinh tế khác. Từ nay ngân sách địa phương phải đảm nhiệm thêm các nhiệm vụ chi sau đây: - Chi về đo đạc và quản lý ruộng đất (trừ chi phí đo toạ độ cấp I và cấp II). - Chi về quy hoạch, khảo sát tổng thể của địa phương (không kể khảo sát thiết kế của các công trình xây dựng cơ bản cụ thể đã được tính vào dự toán công trình). - Chi cho công tác định canh, định cư ở địa phương. - Chi đưa dân đi và đón dân đến vùng kinh tế mới (nơi nào đưa dân đi thì phải lo toàn bộ kinh phí để cho dân, nơi nào đón dân đến phải lo toàn bộ kinh phí để đón dân đến), theo đúng chế độ hiện hành của Nhà nước. Tất cả cá khoản chi này, đều phải được tính toán và điều hành theo đúng những chế độ, định mức thống nhất do Trung ương qui định cho cả nước. 3/ Chi về văn hoá, y tế, xã hội : Đây là khoản chi rất lớn, cần xác định rõ thêm một số điểm chủ yếu như sau: a. Chi cho giáo dục : Bao gồm chi cho tất cả các trường phổ thông, bổ túc văn hoá, nhà trẻ, mẫu giáo, các trường thanh thiếu niên dân tộc thuộc địa phương quản lý. b. Chi cho đào tạo : bao gồm các lớp đại học tại chức, các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, đào tạo dạy nghề , đào tạo sơ cấp ngắn hạn và các hình thức đào tạo khác do địa phương tổ chức và quản lý. c. Chi cho nghiên cứu khoa học : bao gồm chi cho các đề tài nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật do địa phương quản lý. d. Chi cho y tế : bao gồm chi về chữa bệnh, phòng bệnh, chi về chữa các bệnh xã hội, chi cho sinh đẻ có kế hoạch và các chi khác về y tế thuộc địa phương quản lý. e. Chi về đảm bảo xã hội : gồm trợ cấp cứu tế xã hội, chi cho các trại xã hội (trại mồ côi, trại nuôi dưỡng người tàn tật, trại cải tạo lao động...) chi trợ cấp cho người già yếu không nơi nương tựa, trợ cấp thêm cho những thương binh, bệnh binh nặng sinh hoạt tại gia đình (nếu có) và các khoản chi bảo đảm xã hội khác theo sự phân cấp của Trung ương. g. Chi cho văn hoá thông tin, thể dục thể thao : gồm các khoản chi trợ cấp cho các đoàn nghệ thuật, thư viện, bảo tồn bảo tàng, đài phát thanh, truyền hình, các đội thông tin, cổ động, triển lãm, các trung tâm tập huấn, bồi dưỡng vận động viên thể dục thể thao, các đại hội thể dục thể thao cấp huyện, cấp tỉnh do địa phương tổ chức và quản lý. Tất cả các khoản chi về văn hoá xã hội được thực hiện theo đúng định mức thống nhất do Bộ Tài chính quy định. Các khoản chi khác về văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội trước đây địa phương đã chi nay vẫn tiếp tục chi. 4/ Trợ cấp khó khăn thường xuyên và đột xuất cho cán bộ công nhân viên chức Trung ương và địa phương . Từ nay chuyển giao cho ngân sách địa phương chi trả khoản trợ cấp khó khăn thường xuyên và đột xuất cho cán bộ công nhân viên chức cả Trung ương và địa phương đóng trên địa bàn theo Thông tư số 06/TTLB ngày 24/3/1989 của Liên Bộ Tài chính - Lao động - thương binh và xã hội, theo nguyên tắc: -Đối với khu vực sản xuất kinh doanh được sử dụng 2% quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ để làm nguồn chi trả trợ cấp khó khăn thường xuyên và đột xuất, nếu thiếu thì dùng quỹ phúc lợi để bổ sung thêm. -Đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp do ngân sách cấp phát bằng 2% quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ đề làm nguồn chi trả trợ cấp khó khăn thường xuyên và đột xuất cho cán bộ công nhân viên chức. Trong quá trình thực hiện phải đảm bảo sự công bằng hợp lý, không phân biệt cán bộ công nhân viên chức do Trung ương hay địa phương quản lý và phải đảm bảo đúng đối tượng và mức chi đã quy định tại Thông tư nói trên. 5/ Chi cho bộ máy quản lý Nhà nước ở địa phương : Trong những năm gần đây, một số cơ quan quản lý Nhà nước đã giao về cho địa phương quản lý chi, nay vẫn tiếp tục quản lý và chi trả. Kể từ ngày 01/01/1990 giao thêm nhiệm vụ chi cho bộ máy của Viện Kiểm sát nhân dân (như những đơn vị dự toán khác của địa phương). Ngân sách tỉnh chi cho Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, ngân sách huyện chi cho Viện Kiểm sát nhân dân huyện. - Chi cho Hội đồng nhân dân các cấp (Hội đồng nhân dân thuộc cấp nào thì ngân sách cấp đó đài thọ). - Trợ cấp cho các tổ chức Đảng do ngân sách tỉnh chi, trợ cấp cho các đoàn thể khác thuộc cấp nào thì ngân sách cấp đó chi trả. - Các khoản chi cho đại biểu Quốc hội: tiếp dân theo định kỳ, đi công tác tại địa phương (tiền tàu xe, công tác phí ...) do ngân sách tỉnh đài thọ. Riêng cán bộ công nhân viên ngành thuế, thu quốc doanh vẫn chi trả như hiện hành (nếu hệ thống thuế của Nhà nước thay đổi, sẽ có hướng dẫn sau). 6/ Chi sẵp xếp lao động : Ngân sách địa phương có nhiệm vụ chi cho việc sắp xếp lại lao động theo đúng tinh thần thông tư số 49-TT/LĐ ngày 25 tháng 10 năm 1989 của Liên Bộ Tài chính - Lao động - thương binh và xã hội. 7/ Chi cấp vốn lưu động : Theo đúng quy định trong kết luận số 14 NQ/TW ngày 23 tháng 5 năm 1989 của Bộ Chính trị, ngân sách địa phương chỉ cấp một phần vốn lưu động cho một số đơn vị mới thành lập, đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc xét duyệt danh sách đưa vào hoạt động sản xuât kinh doanh. Việc xét duyệt danh mục đơn vị được cấp phát và số vốn cấp phát phải được xem xét trên cơ sở có hiệu quả cao, mức vốn cấp không quá 50% vốn lưu động định mức được các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt. Tất cả các đơn vị đã hoạt động và đã được ngân sách cấp vốn ban đầu sẽ không cấp bổ sung vốn lưu động mà phải tự lo vốn hoặc vay Ngân hàng để đảm bảo sản xuất kinh doanh. 8/ Các khoản chi khác . Ngân sách địa phương có nhiệm vụ đảm bảo kinh phí cho các nhu cầu sau: a. Chi cho sự nghiệp quốc phòng ở địa phương, bao gồm: - Chi xây dựng lực lượng, hoạt động tác chiến của dân quân tự vệ. - Chi tuyển quân và đón quân nhân hoàn thành nghĩa vụ trở về. - Chi động viên quân nhân dự bị, phương tiến thiết bị kỹ thuật của các ngành kinh tế của địa phương cho chiến tranh. - Chi xây dựng khu vực phòng thủ của tỉnh. - Chi bảo quản sửa chữa vũ khí, khí tài cho lực lượng dân quân tự vệ, quân nhân dự bị. - Chi cho huấn luyện dân quân tự vệ. b. Trong trường hợp ngân sách xã chưa tập hợp vào ngân sách huyện thì ngân sách địa phương phải chi các khoản sau: - Trợ cấp một phần kinh phí cho cán bộ xã. - Trợ cấp ngân sách ch những xã thu không đủ chi. Đối với những xã có nguồn thu đảm bảo chi thì ngân sách huyện không trợ cấp (kể cả sinh hoạt phí của cán bộ xã) . Ngoài những khoản chi nêu trên, ngân sách địa phương chỉ được bố trí cho các khoản chi khác đã được Trung ương quy định như: chi trả những khoản thu năm trước, chi trưng mua và đền bù tài sản, chi đón tiếp Việt kiều, chi vận động mua công trái, chi tiền thưởng cho những người có công phát hiện tố giác những hành vi tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa, ăn hối lộ. Đối với các khoản chi trả ngân sách xã về thuế nông nghiệp, thuế công thương nghiệp trước đây do Trung ương quy định theo một tỷ lện thống nhất, nay giao cho Uỷ ban Nhân dân tỉnh và huyện quyết định theo nghị quyết số 186/HĐBT về chế độ phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương. III. CƠ CHẾ HÌNH THÀNH NGUỒN THU CỦA NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG. 1/ Những khoản thu cố định để lại 100% cho ngân sách địa phương . Bộ Tài chính giải thích rõ thêm một số khoản thu địa phương được hưởng 100% như sau: - Thu học phí : đây là khoản thu nhằm bổ sung nguồn để sửa chữa trường lớp, mua sắm đồ dùng giảng dạy và học tập, bồi dưỡng thêm cho giáo viên. Mức thu và đối tượng thu phải theo đúng quy định trong thông tư số 16-TT/LB ngày 14/8/1989 của Liên Bộ Tài chính - Giáo dục. - Thu viện phí của những cơ sở y tế do địa phương quản lý: mức thu và đối tượng thu tạm thời theo qui định tại thông tư số 14-TT/LB ngày 15/6/1989 của Liên Bộ Tài chính - Y tế (nếu có thay đổi sẽ có hướng dẫn sau). - Thu phí giao thông của tất cả các đối tượng không phân biệt do cấp nào quản lý. Mức thu tạm thời theo quy định tại thông tư số 56-TT/LB ngày 26/12/1988 của Liên Bộ Tài chính - Giao thông vận tải. Phí giao thông được để lại 100% cho ngân sách địa phương để duy tu, sửa chữa lớn cầu, phà, đường giao thông theo phân cấp quản lý của Hội đồng Bộ trưởng và Bộ Giao thông vận tải. Ngân sách Trung ương sẽ cấp phát vốn sự nghiệp giao thông để Bộ Giao thông vận tải thực hiện duy tu, sửa chữa lớn cầu phà, tuyến đường do Bộ Giao thông vận tải trực tiếp quản lý theo phân cấp của Hội đồng Bộ trưởng. - Thu tiền nuôi rừng : đối với số thu của ngân sách Nhà nước về rừng do địa phương và Trung ương quản lý được để lại cho ngân sách điạ phương hưởng 100% để đầu tư phát triển và chăm sóc rừng. Ngân sách Trung ương đảm nhiệm việc cấp phát vốn để đầu tư trồng rừng và chăm sóc rừng do Trung ương quản lý. Mức thu tạm thời thực hiện theo quyết định số 116/HĐBT ngày 20/7/1988 và thông tư số 27 TT/LB ngày 30/11/1988 của Liên Bộ Lâm nghiệp - Tài chính. - Thu viện trợ nước ngoài gồm các khoản thu do quốc tế viện trợ theo chương trình hay viện trợ cứu tế đột xuất cho địa phương. Các khoản thu này ngân sách địa phương được hưởng 100% nhưng phải sử dụng đúng mục đích của nguồn vốn viện trợ đã quy định. - Thu do dân đóng góp : địa phương không được đặt ra các khoản thu bắt buộc dân góp trái với quy định chung của Nhà nước Trung ương. Khoản thu này hoàn thoàn do dân tự nguyện đóng góp và sử dụng đúng mục đích của nguồn vốn huy động. Nếu thu bằng hiện vật phải quy về giá trị để ghi thu ngân sách. - Thu thuế sát sinh, thuế môn bài, thuế trước bạ và lệ phí chứng thư của địa phương, lệ phí chợ, phà đò, lệ phí sử dụng vỉa hè phải thu theo đúng hướng dẫn của Bộ Tài chính về mức thu, đối tượng thu và phải được hạch toán đúng mục lục ngân sách Nhà nước hiện hành. - Các khoản thu khác mà Trung ương có quyết định để lại ngân sách địa phương được hưởng 100% (nếu có) như thu về phạt, tịch thu ... Những khoản thu này phải được hạch toán và báo cáo chính xác theo đúng mục lục ngân sách Nhà nước hiện hành (nếu hạch toán sai sẽ bị xuất toán). Các khoản thu về phạt, tịch thu bằng ngoại tệ, vàng, bạc, kim khí quí, đá quý phải nộp 100% bằng hiện vật vào quỹ dự trữ của Nhà nước và sẽ được thanh toán một phần cho ngân sách địa phương theo quyết định của Hội đồng Bộ trưởng bằng tiền Việt Nam (theo tỷ giá Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm thanh toán). 2/ Những khoản thu điều tiết hàng năm cho ngân sách địa phương . - Thu quốc doanh và lợi nhuận của xí nghiệp Trung ương không kể các đơn vị hạch toán toàn ngành sau đây: bưu điện, ngân hàng, điện lực, bảo hiểm Nhà nước, hàng không, đường sắt, đường biển. - Thu nhập thuần tuý tập trung của xí nghiệp quốc doanh địa phương gồm thu quốc doanh, lợi nhuận, chênh lệch giá, chênh lệch ngoại thương, các khoản phụ thu ....(nếu có). - Toàn bộ số thu thuế nông nghiệp (kể cả phần để lại cho ngân sách xã). Tỷ lệ điều tiết thuế nông nghiệp dành cho ngân sách xã do Uỷ ban Nhân dân huyện quyết định tuỳ thuộc vào mức điều tiết mà Uỷ ban Nhân dân tỉnh để lại cho ngân sách huyện và tình hình thực tế của ngân sách từng xã. - Thuế công thương nghiệp: không tính số thu về thuế môn bài, thuế trước bạ và thuế sát sinh. Thuế sát sinh thu được dành cho ngân sách xã 100%. Hàng tháng căn cứ vào số thực thu thuế sát sinh trên địa bàn từng xã đã nộp vào ngân sách Nhà nước, Ngân sách Nhà nước thực hiện điều tiết 100% số thuế sát sinh đó cho ngân sách huyện, Phòng tài chính huyện trích tồn quỹ ngân sách huyện chi trả cho từng xã số thu thuế sát sinh nói trên. Tỷ lệ điều tiết chung của 4 khoản thu trên cho ngân sách địa phương được tính như sau: lấy tổng số chi của ngân sách địa phương tính theo chế độ, định mức của Nhà nước quy định trừ (-) số thu ngân sách địa phương được hưởng 100%, dùng kết quả này chia (:) cho tổng số thu của ngân sách Nhà nước về 4 khoản thu nói trên. Ví dụ: Ngân sách của tỉnh A có: - Tổng cố chi ngân sách địa phương theo chế độ, định mức của Nhà nước quy định là 100 tỷ đồng. - Tổng số thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn về 4 khoản thu được điều tiết là 280 tỷ đồng. - Tổng số thu ngân sách địa phương được hưởng từ các khoản thu cố định dành cho ngân sách địa phương 100% là 20 tỷ đồng. Tỷ lệ điều tiết ngân sách địa phương tỉnh được hưởng là: 100 -20 x100 = 80 x 100 = 29% 280 280 3/ Nguồn thu bổ sung của ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương . Đối với các địa phương có nguồn thu không lớn, tỷ lệ điều tiết trên được mở rộng đến 100% cộng (+) số thu cố định của địa phương được hưởng mà vẫn chưa đủ trang trải các nhiệm vụ chi được giao thì sẽ được ngân sách trung ương trợ cấp một khoản kinh phí để cân đối ngân sách địa phương. Khoản kinh phí này được quyết định đầu năm theo kế hoạch. Trong quá trình điều hành, Bộ Tài chính chuyển dần theo kế hoạch quý. IV. LẬP VÀ CHẤP HÀNH NGÂN SÁCH: 1/ Việc lập dự toán vận dụng sáng tạo đường lối, chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước, các chỉ tiêu nhiệm vụ của kế hoạch Nhà nước hàng năm và dài hạn, bảo đảm xây dựng kế hoạch từ cơ sở và sự thống nhất giữa kế hoạch hiện vật và kế hoạch giá trị. - Dự toán ngân sách Nhà nước phải tính đủ yếu tố biến động của nền kinh tế - xã hội trong năm kế hoạch và phải căn cứ vào các định mức chế độ thu chi tài chính do Nhà nước ban hành chính thức. - Phải chú ý bồi dưỡng và khai báo triệt để mọi nguồn thu để tăng thu và bảo đảm các nhu cầu chi hợp lý cần thiết của nền kinh tế quốc dân, không chi vượt quá khả năng của ngân sách. 2/ Quy trình xây dựng và tổng hợp dự toán ngân sách ở địa phương . - Hàng năm, căn cứ chỉ thị của Hội đồng Bộ trưởng về công tác xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, thông tư hướng dẫn và số kiểm tra thu chi Ngân sách do Bộ Tài chính giao, UBND tỉnh hướng dẫn nội dung và quy trình lập, tổng hợp dự toán ngân sách và giao số kiểm tra cho các ngành, các huyện.
Căn cứ vào số kiểm tra, các đơn vị xây dựng và bảo vệ kế hoạch trước Uỷ ban Nhân dân tỉnh (hoặc uỷ nhiệm cho Sở Tài chính) xét duyệt.
Sau khi làm việc với các ngành và các huyện; Uỷ ban Nhân dân tỉnh hoàn chỉnh kế hoạch, có thuyết minh đầy đủ, gửi Hội đồng Bộ trưởng đồng gửi Bộ Tài chính, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và bảo vệ kế hoạch Ngân sách theo lịch cụ thể của Bộ Tài chính. -
Căn cứ vào chỉ tiêu thu, chi Ngân sách được Hội đồng Bộ trưởng giao, Uỷ ban nhân dân tỉnh giao nhiệm vụ thu chi ngân sách cho các ngành, các quận huyện trực thuộc. Trong qúa trình giao và thực hiện kế hoạch Ngân sách, các tỉnh phải coi số thu Ngân sách mà Hội đồng nhân dân tỉnh có thể quyết định tổng số thu cao hơn mức Hội đồng Bộ trưởng giao và quyền bố trí kế hoạch chi thêm tương ứng. Trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều biến động, để quản lý và điều hành ngân sách chặt chẽ, chủ động, các địa phương phải xây dựng kế hoạch hàng quý và gửi về Bộ Tài chính đúng thời hạn quy định. 3/ Kết dư ngân sách địa phương . Kết dư ngân sách địa phương là số chênh lệch giưã thu và chi ngân sách trong năm bao gồm cả phần tiền thưởng hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch thu chi ngân sách (nếu có) sau khi đã quyết toán chính thức và được Bộ Tài chính duyệt, thông báo cho địa phương. V. QUỸ DỰ TRỮ TÀI CHÍNH. 1/ Quỹ dự trữ tài chính được hình thành từ kết dư ngân sách địa phương - là một quỹ luân chuyển tồn tại năm này qua năm khác. Địa phương phải cố gắng tăng dần quĩ dự trữ tài chính, phấn đấu đạt mức bằng từ 2 đến 3 tháng chi thường xuyên của ngân sách địa phương (không kể chi xây dựng cơ bản và vốn lưu động). Về nguyên tắc quỹ dự trữ tài chính phải bằng tiền. Trong điều kiện giá cả chưa ổn định có thể được dự trữ một phần dưới hình thức hiện vật, nhưng tối đa không qúa 50% quỹ dự trữ tài chính của tỉnh. 2/ Quỹ dự trữ tài chính gồm 2 phần: a.
Phần bằng tiền: Số tiền trích lập quĩ dự trữ tài chính gửi vào tài khoản của Ngân hàng (tài khoản 711 quỹ dự trữ tài chính tỉnh; tài khoản 712 quỹ dự trữ tài chính huyện Ngân). Ngân hàng được phép dùng số tiền đó để cho vay và phải trả lãi cho ngân sách địa phương theo đúng chính sách lãi suất tiền gửi của Nhà nước. Cuối năm, Ngân hàng Nhà nước tỉnh phải báo cáo với Uỷ ban Nhân dân tỉnh và quyết toán với Sở Tài chính: số tiền gửi đầu năm, số xuất ra trong năm, số tồn đến cuối năm (kể cả vốn và lãi).
Phần bằng hiện vật: có thể sử dụng tối đa không quá 50% quỹ dự trữ tài chính để dự trữ lương thực và một số vật tư chiến lược như sắt, thép, xăng dầu, phân bón, thuốc trừ sâu ....