THÔNG TƯ Qui định tạm thời công tác quản lý quĩ ngân sách nhà nước trong hệ thống kho bạc nhà nước Thi hành quyết định số 07/HĐBT ngày 4/01/1990 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thành lập hệ thống kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính và quyết định số 69 TC/QĐ/TCCB ngày 26 tháng 2 năm 1990 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành qui định tạm thời chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của hệ thống kho bạc Nhà nước; Bộ Tài chính qui định tạm thời công tác quản lý quỹ ngân sách Nhà nước trong hệ thống kho bạc Nhà nước như sau: I. VỀ THÔNG BÁO KẾ HOẠCH THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1/ Ở Trung ương a) Vụ Ngân sách Nhà nước thông báo cho Cục kho bạc Nhà nước kế hoạch thu, chi Ngân sách Nhà nước đã được duyệt và kế hoạch giao cho các Bộ, các ngành, các địa phương các chỉ tiêu cụ thể về thu, chi Ngân sách Nhà nước cả năm và từng quý (kế hoạch năm có chia ra quý, kế hoạch quý có chia ra tháng). Trường hợp chưa có chỉ tiêu kế hoạch chính thức thì thông báo kế hoạch dự kiến, bao gồm cả kế hoạch bổ sung (nếu có). Kế hoạch năm gửi trước ngày 10/12 năm trước, kế hoạch quý gửi trước ngày 20 của tháng cuối quý trước. b) Các bộ, ngành chủ quản khi giao kế hoạch nộp ngân sách Nhà nước cho các đơn vị, xí nghiệp trực thuộc, gửi Bộ Tài chính 2 bản tổng hợp giao kế hoạch năm có chia ra quý và kế hoạch quý có chia ra tháng, (1 bản gửi Cục Kho bạc Nhà nước, 1 bản gửi cho Cục thu quốc doanh). Thời gian gửi kế hoạch năm trước ngày 15/12 năm trước; kế hoạch quí gửi trước ngày 25 tháng cuối quý trước. 2/ Ở địa phương a)
Căn cứ kế hoạch thu, chi ngân sách đã được Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu (sau đây gọi tắt là tỉnh) duyệt, Ủy ban nhân dân tỉnh giao nhiệm vụ kế hoạch thu, chi ngân sách cho các huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc (sau đây gọi tắt là huyện) và các Sở chủ quản.
Căn cứ vào các chỉ tiêu nói trên, Sở tài chính gửi cho Chi cục Kho bạc Nhà nước 1 bản. Các Sở chủ quản ở tỉnh khi giao kế hoạch làm nghĩa vụ đối với Ngân sách Nhà nước cho các đơn vị, xí nghiệp trực thuộc gửi Sở Tài chính và Chi cục Kho bạc Nhà nước bản tổng hợp kế hoạch năm có chia ra quí; khế hoạch quí có chia ra tháng. Kế hoạch năm gửi trước ngày 10/12 năm trước; kế hoạch quí gửi trước ngày 20 của tháng cuối quí trước. b)
Căn cứ kế hoạch thu, chi ngân sách đã được Hội đồng nhân dân huyện duyệt; Uỷ ban nhân dân huyện giao nhiệm vụ kế hoạch thu, chi ngân sách cho các cơ quan, đơn vị trong huyện.
Căn cứ vào các chỉ tiêu đó, Ban Tài chính giá cả huyện gửi Chi nhánh kho bạc nhà nước 1 bản. c) Trên cơ sở các chỉ tiêu kế hoạch thu, chi ngân sách do cơ quan tài chính và các Bộ, các ngành ở Trung ương tổng hợp và thông báo; Cục kho bạc Nhà nước thông báo cho các Chi cục kho bạc Nhà nước, Chi cục kho bạc Nhà nước thông báo cho các Chi nhánh kho bạc Nhà nước để theo dõi và đôn đốc, giám sát việc thực hiện. d)
Căn cứ kế hoạch thu chi Ngân sách Nhà nước và kế hoạch chi hạn mức kinh phí của các Bộ, các ngành ở Trung ương và Sở, ngành ở địa phương; cơ quan kho bạc Nhà nước các cấp lập kế hoạch thu, chi tiền mặt với ngân hàng (nơi kho bạc mở tài khoản) và gửi cơ quan kho bạc cấp trên theo hướng dẫn tại thông tư số 10 TC/KBNN ngày 27/2/1990 của Bộ Tài chính II. CHẤP HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1/ Hệ thống Kho bạc Nhà nước tổ chức hạch toán thu, chi quỹ ngân sách theo mục lục ngân sách Nhà nước hiện hành. 2/ Các cơ quan, xí nghiệp, tổ chức kinh tế tập thể, cá thể làm nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước có trách nhiệm, thực hiện nộp đầy đủ, đúng kỳ hạn quy định đối với các khoản thu ngân sách Nhà nước theo đúng chính sách, kế hoạch đã được thông báo. Đơn vị nào nộp chậm, nộp thiếu sẽ bị phạt 0,2% (hai phần ngàn) số tiền nộp chậm tính cho mỗi ngày theo qui định hiện hành của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Tiền phạt của đơn vị xí nghiệp thuộc cấp nào quản lý nộp vào ngân sách cấp đó. Đối với tổ chức kinh tế tập thể, tư doanh, cá nhân; việc nộp phạt chậm thuế theo hướng dẫn của Bộ Tài chính và thông báo ngay cho cơ quan tài chính đồng cấp biết để có biện pháp tác động thu nộp kịp thời vào ngân sách Nhà nước. 3/ Các cấp ngân sách, các Bộ, ngành, các đơn vị sử dụng vốn ngân sách phải thực hiện đúng những nguyên tắc dưới đây: - Cấp ngân sách nào chỉ được quyền sử dụng quỹ của ngân sách cấp đó quản lý (huyện không được tự động sử dụng quỹ ngân sách tỉnh; tỉnh không được tự động sử dụng quỹ của ngân sách trung ương). - Khi sử dụng kinh phí đã được cấp phát phải theo đúng chương, loại, khoản, hạng, mục của mục lục Ngân sách Nhà nước hiện hành. - Bảo đảm chi tiêu đúng mục đích, có hiệu quả và tiết kiệm kinh phí. 4/ Các đơn vị, các tổ chức kinh tế (bao gồm kinh tế quốc doanh, tập thể, cá thể ... ) khi nộp hoặc rút kinh phí từ kho bạc Nhà nước bằng tiền mặt hoặc bằng chuyển khoản phải tuân theo những quy định tại Thông tư số 11 TC/NSNN ngày 03/3/1990 của Bộ Tài chính. 5/ Chi cục kho bạc Nhà nước, Chi nhánh kho bạc Nhà nước thực hiện việc tập trung các nguồn thu của ngân sách Nhà nước, điều tiết số thu vào từng cấp ngân sách theo đúng Nghị quyết số 186/HĐBT ngày 27/11/1989 của Hộ đồng Bộ trưởng về phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương và theo tỷ lệ cụ thể do Nhà nước quy định đối với từng địa phương (năm 1990 đã thông báo tại công điện số 18 TC/NSNN ngày 7/2/1990 của Bộ trưởng Bộ Tài chính). 6/ Hệ thống kho bạc Nhà nước thực hiện việc thoái trả các khoản thu của ngân sách Nhà nước theo nguyên tắc: - Số thu do cấp nào quản lý thì cơ quan tài chính cấp đó ra lệnh thoái thu. - Số thu trước đây đã ghi vào cấp ngân sách nào khi thoái trả phải trích quỹ ngân sách cấp đó; thu ở nơi nào, thực hiện thoái trả tại nơi đó cho các đối tượng được hưởng. Trường hợp một khoản thu điều tiết cho cả 3 cấp ngân sách thì thoái từ 3 cấp ngân sách đó để trả. - Khi có đầy đủ thủ tục của đơn vị xin thoái thu, trong phạm vi 3 ngày làm việc, cơ quan tài chính phải lập giấy thoái thu và chuyển ngay sang kho bạc Nhà nước để thực hiện việc thoái trả cho đơn vị. - Việc thoái trả thuế hàng hoá nội địa đối với số hàng nông sản, hải sản xuất khẩu được thi hành theo Pháp lệnh thuế công thương nghiệp và hướng dẫn tại Thông tư số 20 TC/CTN ngày 6/6/1989 của Bộ Tài chính. - Việc thoái thu thuế hải quan, Bộ Tài chính uỷ nhiệm cho Sở Tài chính thực hiện theo quy định tại Thông tư số 11/TC-CTN ngày 11/4/1988 của Bộ Tài chính. 7/ Kho bạc Nhà nước thực hiện chi trả vốn, kinh phí ngân sách cho các đơn vị trong phạm vi tồn quỹ của từng cấp ngân sách. 8/ Kho bạc Nhà nước thực hiện chi trả theo thông báo hạn mức kinh phí của đơn vị dự toán cấp I, cấp II phân phối cho các đơn vị dự toán cấp III và lệnh chi tiền do cơ quan tài chính phát hành. 9/ Các đơn vị dự toán sử dụng hạn mức kinh phí khi chuyển tiền đI nơi khác sử dụng mà không được chuyển vào tài khoản tiền gửi dự toán hoặc tài khoản khác để sử dụng. 10/ Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chi trả quỹ ngân sách, nếu phát hiện thấy đơn vị sử dụng kinh phí không đúng mục đích và tính chất của khoản chi, Kho bạc Nhà nước được quyền yêu cầu đơn vị thuyết minh lý do cụ thể và được quyền từ chối chi trả đối với những khoản chi sai chế độ; đồng thời thông báo cho cơ quan tài chính đồng cấp để kiểm tra xác minh. III. PHƯƠNG THỨC, THỦ TỤC LẬP, KIỂM TOÁN, LUÂN CHUYỂN CHỨNG TỪ: 1/ Chứng từ thu chi ngân sách Nhà nước được lập theo nguyên tắc sau đây: - Chứng từ nộp các khoản thu nhập thuần tuý của xí nghiệp (thu quốc doanh, lợi nhuận, chênh lệch giá...), thu sự nghiệp do đơn vị, xí nghiệp, tổ chức kinh tế lập; các khoản thu hải quan do cơ quan Hải quan lập theo quy định của Bộ Tài chính. Các chứng từ đã nộp tiền vào ngân sách Nhà nước phải ghi đầy đủ mã số chương, loại, khoản, hạng, mục của mục lục ngân sáchnn hiện hành. - Cơ quan thuế công thương nghiệp lập thông báo nộp thuế và giấy nộp tiền thuế đối với tổ chức kinh tế tập thể, cá nhân kinh doanh công thương nghiệp và giao cho người nộp đem nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước. - Giấy nộp tiền vào Ngân sách Nhà nước bằng tiền mặt được lập theo qui định của kho bạc Nhà nước và nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước. - Giấy nộp tiền vào Ngân sách Nhà nước bằng chuyển khoản đơn vị phải kèm theo séc thanh toán hoặc uỷ nhiệm chi để trích tài khoản của đơn vị hoặc cá nhân nộp vào Ngân sách Nhà nước. Khi lập chứng từ nộp bằng chuyển khoản đơn vị phải lapạ đủ số liệu theo qui định sau: + 1 liên - Ngân hàng nơi đơn vị mở tài khoản + 1 liên - Kho bạc Nhà nước nơi thu tiền làm chứng từ hạch toán thu ngân sách Nhà nước và phân chia điều tiết giữa các cấp ngân sách. + 1 liên - chi cục kho bạc Nhà nước để đối chiếu và làm căn cứ kiểm tra việc tính tỷ lệ điều tiết. + 1 liên - Dùng làm biên lai giao cho đơn vị hoặc cá nhân nộp tiền. Nếu là các khoản thu nhập thuần tuý của xí nghiệp hoặc thuế công thương nghiệp thì lập thêm 1 liên để gửi cơ quan thu quốc doanh hoặc thuế công thương nghiệp. 2/ Cơ quan Ngân hàng khi nhận được chứng từ nộp tiền của đơn vị, tổ chức kinh tế làm nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước thì tiến hành trích tài khoản của đơn vị để chuyển cho Ngân hàng nơi giữ tài khoản của Kho bạc Nhà nước ngay trong ngày làm việc. Ngân hàng nơi giữ tài khoản của Kho bạc Nhà nước ghi tăng tài khoản tiền gửi Kho bạc Nhà nước ngay trong ngày nhận được chứng từ và gửi giấy báo 'Có' kèm theo bản sao sổ phụ tiền gửi kho bạc cho Kho bạc Nhà nước ngay trong sáng ngày hôm sau theo đúng thông tư Liên bộ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước số 09/TTLB ngày 27/02/1990 quy định tạm thời việc mở tài khoản, quan hệ thanh toán và tiền mặt giữa hệ thống Ngân hàng và Kho bạc Nhà nước. 3/ Các chứng từ chi ngân sách Nhà nước bằng hạn mức kinh phí do cơ quan dự toán lập theo chế độ cấp phát hạn mức kinh phí cho các đơn vị cấp I, cấp II, cấp III mở tài khoản để kho bạc Nhà nước nơi đơn vị cấp I, cấp II, cấp III mở tài khoản để kho bạc Nhà nước chuyển tiền theo thông báo hạn mức kinh phí được duyệt chi trả cho các đơn vị. 4/ Lệnh chi tiền là chứng từ chi ngân sách do cơ quan tài chính các cấp lập yêu cầu kho bạc Nhà nước trichs tồn quỹ của cấp ngân sảcha lệnh chi để chi trả cho các đơn vị dự toán. 5/ Các cơ quan đơn vị dự toán được sử dụng các chứng từ như: giấy rút hạn mức kinh phí, séc bảo chi, séc tiền mặt, uỷ nhiệm chi, séc chuyển khoản theo qui định của kho bạc Nhà nước để trích tài khoản hạn mức kinh phí hoặc tài khoản tiền gửi đơn vị dự toán để sử dụng. Riêng các đơn vị sử dụng hạn mức kinh phí chỉ được dùng séc bảo chi. 6/ Kho bạc Nhà nước khi tiếp nhận chứng từ do khách hàng chuyển đến có trách nhiệm kiểm soát các yếu tố của chứng từ hợp lệ theo chế độ chứng từ của kho bạc Nhà nước qui định. Chứng từ không hợp lệ được quyền từ chối và yêu cầu khách hàng lập lại mới được tiepé nhận và xử lý hạch toán. Việc chậm trễ đó do khách hàng chịu trách nhiệm. 7/ Việc luân chuyển chứng từ được thực hiện theo chế độ kế toán kho bạc Nhà nước. IV. CẤP PHÁT VÀ HẠCH TOÁN 1/ Các cơ quan tài chính thực hiện cấp phát ngân sách Nhà nước bằng "lệnh chi tiền" theo chương, loại, khoản, hạng, mục của
Mục lục ngân sách Nhà nước hiện hành; cấp phát bằng hạn mức kinh phí cho từng đơn vị cấp I bằng thông báo hạn mức kinh phí theo 5 nhóm mục: 64, 65, 66, 67 và chi khác.
Phần ngân sách tỉnh, thành phố, ngân sách trung ương được hưởng cuối ngày trích tài khoản thu của ngân sách tỉnh, ngân sách trung ương chuyển về kho bạc Nhà nước cấp trên theo qui định trong chế độ kế toán kho bạc Nhà nước do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành.