THÔNG TƯ Quy định chế độ quản lý tài chính đối với ngân hàng nhà nước
Căn cứ Nghị định số 196/HĐBT ngày 11/12/1989 của Hội đồng Bộ trưởng "Quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của các Bộ" và Nghị định số 155/HĐBT ngày 15/10/1988 của Hội đồng Bộ trưởng "Quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức Bộ máy của Bộ Tài chính"
Căn cứ Pháp lệnh kế toán - thống kê do Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 20/8/1988 và Nghị định số 25/HĐBT ngày 18/3/1989 của Hội đồng Bộ trưởng ban hanh điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước;
Căn cứ pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt nam được công bố tại Lệnh số 37 LCT/HĐNN8 ngày 24/5/1990 của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước;
Sau khi đã báo cáo thủ tướng Chính phủ và thỏa thuận với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt nam; Bộ Tài chính quy định chế độ quản lý Tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt nam như sau: I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG: 1. Ngân hàng Nhà nước là cơ quan của Chính phủ, có chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng; Ngân hàng; đồng thời có các nghiệp vụ kinh doanh, dịch vụ Ngân hàng hoạt động theo phương pháp hạch toán kinh tế. 2. Ngân hàng Nhà nước được Nhà nước cấp vốn pháp định, có quyền tự chủ về Tài chính theo luật pháp, đảm bảo việc bảo toàn và phát triển vốn của Nhà nước, có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các chế độ quản lý Tài chính, pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước, Pháp lệnh kế toán - Thống kê và nghĩa vụ nộp NSNN theo đúng quy định của Nhà nước và theo những quy định cụ thể tại Thông tư này. 3. Ngân hàng Nhà nước được trích lập và sử dụng các quỹ theo quy định chung của Nhà nước và quy định cụ thể tại Thông tư này. II. NỘI DUNG CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI HNNN: 1. Vốn Nhà nước và trách nhiệm bảo toàn vốn: a) Vốn Nhà nước thuộc quyền sử dụng, bảo toàn và phát triển của Ngân hàng Nhà nước gồm : - Vốn NSNN: bao gồm vốn pháp định, vốn XDCB do NSNN cấp hoặc có nguồn gốc từ NSNN (như chênh lệch giá và các khoản phải nộp NSNN nhưng được để lại); Vốn được viện trợ, quyên tặng, vốn tiếp quản từ chế độ cũ để lại. - Vốn dự trữ và điều hòa vàng bạc, ngoại tệ; vốn phát hành cho tín dụng; quỹ dự phòng và quỹ dự trữ được hình thành theo Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước. - Vốn Ngân hàng Nhà nước tự bổ sung: gồm các loại vốn hoạt động của NHNN được hình thành từ lợi nhuận để lại hoặc có nguồn gốc từ lợi nhuận để lại theo chế độ quy định. b) Trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn của NHNN: - Toàn bộ vốn NSNN cấp và vốn Ngân hàng Nhà nước tự bổ sung thêm đến thời điểm giao vốn đều phải tính chung vào vốn Nhà nước giao, Ngân hàng Nhà nước phải có trách nhiệm bảo toàn. - Đối với vốn tự bổ sung, Ngân hàng Nhà nước được tự chủ trong việc sử dụng vào các mục đích theo chức năng của mình nhưng không được sử dụng vào việc xây dựng nhà ở và các công trình phúc lợi, các phương tiện, đồ dùng phục vụ sinh hoạt đời sống. - Hàng năm, Bộ Tài chính cùng Ngân hàng Nhà nước xác định lại số vốn NHNN phải bảo toàn đến thời điểm 31 tháng 12. Số liệu này được dùng làm căn cứ duyệt quyết toán vốn bảo toàn năm báo cáo và làm cơ sở kiểm tra mức độ bảo toàn vốn trong năm tiếp theo. Việc xác định mức độ bảo toàn đối với từng loại vốn được thực hiện theo các văn bản của Nhà nước và hướng dẫn của Bộ Tài chính. 2. Quản lý Tài chính đối với thu nhập và chi phí của NHNN : a) Thu nhập của NHNN gồm: - Thu lãi cho vay, thu lãi tiền gửi - Thu lệ phí, hoa hồng về các nghiệp vụ ủy nhiệm - Thu nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, đá quý - Các khoản thu khác phát sinh trong quá trình hoạt động Ngân hàng b) Chi phí của NHNN gồm : + Các khoản chi trực tiếp hạch toán vào chi phí: - Chi trả lãi tiền gửi - Trả lệ phí, hoa hồng và các nghiệp vụ ủy nhiệm - Chi nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, đá quý - Chi in tiền kể từ năm 1994 trở đi (riêng 2 năm 1992 vf 1993 khoản chi này được hạch toán riêng và được trừ vào phần lợi nhuận nộp NSNN sau khi được Bộ Tài chính kiểm tra xét duyệt quyết toán Tài chính năm). - Chi lương và phụ cấp lương theo bảng lương công chức Nhà nước. - Chi bảo hiểm xã hội, y tế, vệ sinh - Chi bảo hộ lao động đối với những đối tượng được trang cấp bảo hộ lao động. - Chi trang phục giao dịch cho công chức Ngân hàng - Chi công tác phí - Chi về tài sản cố định và tài sản lưu động: Chi khấu hao cơ bản tài sản cố định Chi sửa chữa lớn tài sản cố định Chi sửa chữa thường xuyên tài sản cố định Chi công cụ lao động - Chi về giấy tờ in, vật liệu văn phòng - Chi vận chuyển, bốc xếp - Chi huấn luyện nghiệp vụ ngắn hạn - Chi cước phí bưu điện, thông tin liên lạc - Chi nghiên cứu khoa học, tuyên truyền, quảng cáo - Các khoản chi khác phát sinh do yêu cầu hoạt động Ngân hàng (bao gồm cả bảo toàn vốn theo hướng dẫn). + Các khoản được hạch toán vào chi phí : - Chi phát triển kỹ thuật nghiệp vụ: trước mắt, Ngân hàng Nhà nước được chi và hạch toán vào phí tối đa bằng 12% trên giá trị TSCĐ bình quân thực hiện trong năm của NHNN. Khoản chi phát triển kỹ thuật nghiệp vụ là vốn được Nhà nước giao cho NHNN để đáp ứng các nhu cầu trang bị phương tiện thông tin, tính toán và an toàn kho quỹ nhằm đổi mới kỹ thuật nghiệp vụ của NHNN.
Căn cứ vào tình hình thực tế, Bộ Tài chính sẽ điều chỉnh khoản chi này cho phù hợp. - Trich quỹ dự phòng bằng 0,2% (hai phần nghìn) trên số dư nợ tín dụng bình quân năm của NHNN. Quỹ dự phòng NHNN dùng để bù đắp các rủi ro, giảm giá TSCĐ hoặc tổn thất do các nguyên nhân khách quan trong quá trình hoạt động. Việc sử dụng quỹ dự phòng trong hệ thống do Thống đốc NHNN quy định. c) Quản lý Tài chính đối với thu nhập và chi phí của NHNN: NHNN thực hiện hạch toán đầy đủ, chính xác, kịp thời các khoản thu nhập và chi phí vào sổ kế toán theo đúng quy định của Pháp lệnh Kế toán - thống kê và điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước. - Các khoản thu, chi bằng ngoại tệ, bằng vàng, vật quý (nếu có) đều chuyển đổi ra đồng Việt nam theo tỷ giá thực tế tại thời điểm phát sinh để hạc toán vào thu chi nghiệp vụ. - NHNN không hạch toán vào chi phí mà phải dùng nguồn vốn tương ứng để trang trải theo quy định đối với các khoản: + Tiền phạt phải nộp NSNN do vi phạm nghĩa vụ thu nộp NSNN và chế độ báo cáo thống kê kế toán; Các khoản tiền phạt phải trả khách hàng về những thiệt hại vật chất do chủ quan NHNN gây ra, phải lấy lợi nhuận được để lại trích lập 2 quỹ khen thưởng và phúc lợi của NHNN. + Các khoản mất mát, tổn thất tài sản Nhà nước do cá nhân, tập thể Ngân hàng gây ra phải lấy từ số tiền xử lý do cá nhân, tập thể gây ra phải bồi hoàn. Hàng năm cùng với việc xây dựng kế hoạch tài chính năm, NHNN có trách nhiệm xây dựng các định mức chi tiêu cho TSCĐ và TSLĐ bao gồm: chi sửa chữa lớn, chi sửa chữa thường xuyên và mua sắm công cụ lao động trong hệ thống trên cơ sở các chế độ Tài chính Nhà nước quy định phù hợp với yêu cầu hoạt động Ngân hàng gửi cho Bộ Tài chính.
Sau khi được Bộ Tài chính chấp thuận kế hoạch tài chính và các định mức chi trong năm, NHNN có trách nhiệm quản lý thực hiện việc chi tiêu theo chế độ Nhà nước quy định và trong phạm vi kế hoạch và các chỉ tiêu định mức đã được Bộ Tài chính chấp thuận. Các khoản chi khác NHNN chủ động căn cứ vào chỉ tiêu tổng chi phí kế hoạch năm đã được duyệt để điều hòa các khoản chi theo thực tế hợp lý. Trường hợp chi vượt kế hoạch: nếu do nguyên nhân khách quan, NHNN có thuyết minh cụ thể trong quyết toán; Nếu do nguyên nhân chủ quan NHNN phải bù đắp bằng nguồn lợi nhuận để lại. 3. Nghĩa vụ nộp NSNN của Ngân hàng Nhà nước: Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm nộp đầy đủ và đúng hạn vào NSNN các khoản sau đây: - Nộp lợi nhuận - Nộp khấu hao cơ bản TSCĐ - Các khoản phải nộp khác theo quy định của Nhà nước Các khoản nộp NSNN được thực hiện tập trung tại Ngân hàng Trung ương. Ngân hàng Trung ương có trách nhiệm nộp trực tiếp vào Chi cục Kho bạc thành phố Hà nội theo kế hoạch quý và quyết toán số thực nộp theo năm. Lợi nhuận nộp NSNN thực hiện theo quy định tại điểm 4 phần II của Thông tư này. Khấu hao cơ bản TSCĐ thuộc vốn NSNN cấp phải nộp 100% vào Ngân sách Nhà nước. 4. Phân phối lợi nhuận và trích lập các quỹ: Lợi nhuận của NHNN sau khi quyết toán được duyệt được phân phối như sau: - Trích quỹ dự trữ: 10% - Trích 2 quỹ phuc lợi, khen thưởng: mỗi quý tối đa bằng 6 tháng lương bình quân thực hiện trong năm (theo chế độ tiền lượng hiện nay. Khi cải cách chế độ tiền lương - Bộ Tài chính sẽ có quy định lại).
Phần lợi nhuận còn lại nộp toàn bộ vào NSNN.