THÔNG TƯ Hướng dẫn xử lý hàng hoá tang vật vi phạm hành chính về thuế mà chủ bỏ hàng hoặc không biết rõ của ai Thi hành Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính của Hội đồng Nhà nước và Nghị định số 01 CP ngày 18/10/1992 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế; tiếp theo các Thông tư số 11 TC/TCT ngày 24/2/1993 và Thông tư số 88 TC/TCT ngày 8/11/1993; Bộ Tài chính hướng dẫn việc xử lý hàng hoá tang vật vi phạm về thuế mà chủ hàng bỏ lại hoặc không biết rõ của ai (hàng vô chủ) như sau: I/ PHẠM VI ÁP DỤNG: Thông tư này áp dụng trong các trường hợp vi phạm về thuế cần phải xử lý hàng hoá tang vật vi phạm để đảm bảo thu đủ tiền thuế, tiền phạt. Cụ thể; - Chủ hàng hoá, tang vật vi phạm bỏ lại hàng hoá
sau khi có quyết định xử lý của cơ quan Thuế. - Chủ hàng bỏ lại hàng hoá tang vật ngay khi bị phát hiện nhưng không rõ của ai hoặc không có người đến nhận. II/ TRÌNH TỰ XỬ LÝ: 1/ Tất cả mọi hành vi vi phạm hành chính về thuế, khi kiểm tra phát hiện đều phải lập biên bản theo đúng mẫu quy định của cơ quan Thuế (mẫu CTT29). Trong biên bản phải ghi rõ Họ tên, địa chỉ của chủ hàng, số lượng, chất lượng, trọng lượng của mặt hàng và nội dung vi phạm, thời hạn xử lý. Các thành viên trong tổ kiểm tra và người vi phạm cùng ký xác nhận. Trường hợp hàng hoá, tang vật khi kiểm tra phát hiện không có người đến nhận thì khi lập biên bản phải ghi rõ là hàng hoá tang vật vô chủ, và có thể mời thêm người làm chứng (không phải thành viên nhóm kiểm tra) ký vào biên bản. 2/ Trình tự xử lý: a/ Đối với hàng hoá mà chủ hàng bỏ lại
sau khi có quyết định xử lý được xử lý như sau: Theo quy định tại khoản 3,
Điều 31 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính thì trong thời gian 5 ngày, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực mà đương sự không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành. Trong trường hợp quá thời hạn quy định trên mà chủ hàng không đến nộp tiền thuế, tiền phạt theo quyết định đã xử lý. Cơ quan Thuế sẽ cưỡng chế thi hành bằng biện pháp kê biên để bán đấu giá hàng hoá.
Việc bán đấu giá hàng hoá, tang vật trong trường hợp này là để bảo đảm tiền thuế, tiền phạt đã ghi trong quyết định xử lý, do đó tổng số tiền thu về bán đấu giá hàng hoá, tang vật được giải quyết theo thứ tự như sau:
a.1/ Nộp đủ số tiền thuế và tiền phạt vào mục 30 của mục lục Ngân sách hiện hành.
a.2/ Chi cho các chi phí điều tra, xác minh, vận chuyển, bốc xếp, bán hàng ..... có chứng từ hợp lệ.
a.3/ Số tiền chênh lệch phát sinh (nếu có) không coi là tiền bán hàng tịch thu và phải nộp toàn bộ vào mục 30 của mục lục Ngân sách hiện hành. Trường hợp tổng số tiền bán hàng thấp hơn tổng số tiền thu theo quyết định xử lý thì cơ quan Thuế ra quyết định xử lý báo cáo UBND cùng cấp và cơ quan Thuế cấp trên để giải quyết.
Trong trường hợp vụ việc bắt giữ thuộc đối tượng được trích thưởng theo Quyết định số 180 - TTg ngày 22/12/1992 của Thủ tướng Chính phủ thì việc nộp khoản tiền thuế, tiền phạt và trích thưởng thực hiện theo hướng dẫn trong Thông tư số 25 TC/TCT ngày 24/3/1993 của Bộ Tài chính theo số thực nộp Ngân sách. Riêng khoản chênh lệch (nếu có) giữa giá bán hàng hoá tang vật và tiền thuế, tiền phạt phải nộp vào Ngân sách như hướng dẫn tại điểm (a.3) trên đây và không được trích thưởng.
b/ Đối với hàng hoá không biết rõ của ai (vô chủ) được xử lý như sau:
Theo quy định tại
Điều 33, điểm 4 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính thì trong trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính không biết rõ ai “cơ quan có thẩm quyền thi hành quyết định phải niêm yết công khai, thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Quá thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo niêm yết công khai, nếu không xác định được chủ sở hữu thì sung tang vật, phương tiện đó vào quỹ Nhà nước”.
Số tiền thu được trong trường hợp này sau khi trừ các khoản chi phí hợp lệ cho việc điều tra, xác minh, bốc dỡ bảo quản ... được trích 5% để nhập vào quỹ chống các hành vi kinh doanh trái Pháp luật và chi dùng theo quy định đối với quỹ đó (được lập theo Quyết định số 180-TTg ngày 22/12/1992 của Thủ tướng Chính phủ), số còn lại nộp vào mục 30 của mục lục Ngân sách hiện hành.
3/ Thủ tục bán đấu giá:
Trước khi bán đấu giá hàng hoá chủ bỏ lại, hàng hoá vô chủ, cơ quan Thuế phải lập báo cáo xin ý kiến UBND cùng cấp và cơ quan Thuế cấp trên.
Sau khi đã được UBND cùng cấp và cơ quan Thuế cấp trên chấp thuận, cơ quan Thuế phối hợp với ngành Công an, Viện kiểm sát, quản lý thị trường, Tài chính tiến hành việc kê biên, định giá và tổ chức bán đấu giá.
Giá bán hàng hoá tang vật là giá thị trường do Sở Tài chính vật giá quy định trong từng thời gian. Tối thiểu phải bằng 90% giá thị trường tại thời điểm bán đấu giá.
III/ NỘP TIỀN VÀO NGÂN SÁCH VÀ
TRÍCH QUỸ CHỐNG CÁC HÀNH VI BUÔN LẬU:
a/ Toàn bộ số tiền bán đấu giá hàng hoá phải gửi vào tài khoản tạm giữ của cơ quan Thuế và được phân phối và trích quỹ chống các hành vi buôn lậu và nộp Ngân sách như quy định tại điểm a, điểm b mục 2 phần II nêu trên.
b/ Việc quản lý và sử dụng số tiền trích quỹ chống các hành vi buôn lậu được thực hiện theo đúng hướng dẫn tại Thông tư số 25 TC/TCT ngày 24/3/1993 của Bộ Tài chính.
Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày ký.
Hàng hoá thuộc diện cấm nhập khẩu, cấm lưu thông vẫn được xử lý theo Thông tư số 77 TC/TCT ngày 5/12/1992 của Bộ Tài chính.
Trong quá trình thực hiện Thông tư này nếu có vướng mắc thì báo cáo về Bộ Tài chính để xem xét giải quyết./.