THÔNG TƯ LIÊN BỘ Hướng dẫn việc bàn giao tài sản, kinh phí hoạt động thuộc ngành thống kê địa phương chuyển về tổng cục thống kê quản lý
Căn cứ điểm 8,
Điều 2 Nghị định số 23/CP ngày 23/3/1994 của Chính phủ " về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê" quy định, Tổng cục Thống kê có nhiệm vụ và quyền hạn : " Quản lý tổ chức biên chế, kinh phí hoạt động của toàn ngành Thống kê (từ Trung ương đến cơ sở) theo quy định của Chính phủ"; Liên Bộ Tài chính - Tổng cục Thống kê hướng dânc việc bàn giao tài sản, kinh phí hoạt động thuộc ngành Thống kê ở các địa phương chuyển về Tổng cục Thống kê quản lý như sau :
I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG :
1. Đối tượng kiểm kê là toàn bộ tài sản bao gồm nhà cửa, vật kiến trúc, thiết bị, phương tiện, vật tư, tiền vốn, kinh phí, công nợ và các tài sản khác (nếu có) của ngành Thống kê các tỉnh, thành phố trực thuộc TW theo các quy định hiện hành.
2. Phạm vi bàn giao là toàn bộ tài sản, vốn qu-'fc, kinh phí hoạt động của ngành Thống kê các tỉnh, thành phố trực thuộc TW đã được phản ánh trong các biên bản kiểm kê nêu trên do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW bàn giao cho Tổng cục Thống kê.
3. Trước khi thực hiện việc kiểm kê, bàn giao phải thành lập Hội đồng kiểm kê. Hội đồng kiểm kê do đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố làm Chủ tịch hội đồng và các thành viên là đại diện Cục Thống kê, Sở Tài chính, .....để xác định giá trị và số liệu tài sản, kinh phí,....sẽ bàn giao từ địa phương về Tổng cục Thống kê quản lý.
4. Kinh phí hoạt động thuộc ngành Thống kê ở các địa phương trong năm 1994 vẫn do Ngân sách địa phương giải quyết đến hết ngày 31/12/1994. Từ ngày 01/01/1995 trở đi, Bộ Tài chính sẽ cấp phát kinh phí từ Ngân sách Trung ương cho toàn ngành Thống kê theo quy định tại Nghị định 23/CP ngày 23/3/1994 của Chính phủ.
II. NỘI DUNG KIỂM KÊ VÀ BÀN GIAO :
1. Nội dung kiểm kê :
a) Toàn bộ tài sản hiện có đến ngày 1/8/1994 của ngành Thống kê địa phương nêu tại điểm 1, phần I trên phải được kiểm kê để bàn giao bao gồm :
a.1 Tài sản cố định : (Phụ lục số 1)
Nhà cửa.
Kho tàng.
Vật kiến trúc.
Máy móc thiết bị, công tơ.
Phương tiện vận tải.
Thiết bị truyền dẫn.
Công cụ làm việc
Tài sản cố định khác.
a.2. Diện tích đất trụ sở để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất : (Phụ lục số 2)
Là toàn bộ diện tích đất của ngành Thống kê địa phương đang quản lý và sử dụng gồm :
Diện tích xây dựng công trình.
Diện tích đất lưu không làm sân, vườn hoa, chờ mở đường,v.v (nếu có)
Diện tích đất chuẩn bị xây dựng trụ sở (nếu có).
Diện tích đất xây nhà cho cán bộ CNV (nếu có).
a.3. Tài sản lưu động : (Phụ lục số 3)
Vật liệu, vật tư.
Phụ tùng thay thế.
Vật rẻ tiền mau hỏng.
Công trình xây dựng, sửa chữa dở dang.
Các khoản phải thu, phải trả, các khoản tạm ứng và các khoản phải thanh toán khác.
Tiền gửi, tiền mặt, các giấy tờ có giá trị như tiền.
b) Xác định giá trị tài sản :
Đối với tài sản cố định tính theo nguyên giá. Riêng TSCĐ phục vụ cho hoạt động SX, KD, dịch vụ ... còn phải phản ánh thêm các nội dung như : số đã trích khấu hao, giá trị còn lại.
Vật liệu, phụ tùng thay thế, vật rẻ tiền mau hỏng tính theo giá trị nhập kho.
Đối với công trình xây dựng, sửa chữa dở dang tính theo chi phí thực tế.
Đối với đất trụ sở xác định theo quy định tại Nghị định 80/CP ngày 6/11/1993 của Chính phủ " Quy định khung giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất thu tiền khi giao đất, cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi".
c) Phương pháp kiểm kê :
Trước khi kiểm kê phải ghi sổ kế toán các hoạt động phát sinh đến 1/8/1994 và phải khoá sổ kế toán, xác định số lượng giá trị từng tài sản, từng loại vốn, qu-'fc bằng tiền hiện có ghi trên sổ sách kế toán đến 1/8/1994.
Trong khi kiểm kê phải trực tiếp cân, đong, đo, đếm từng thứ tài sản kết hợp với việc phân tích thực trạng bằng phương pháp chuyên gia.
Đối với vốn bằng tiền phải kiểm kê từng loại vốn, qu-'fc, từng loại tiền và lập bảng kê riêng (kể cả ngoại tệ).
Đối với các khoản tiền gửi Kho bạc, Ngân hàng (nếu có), tiền đang chuyển, cho vay, tạm ứng phải kiểm kê đối chiếu có xác nhận của Kho bạc, Ngân hàng (nếu có), của người vay, người nhận tạm ứng.
Các loại giấy tờ có giá trị như tiền phải kiểm kê như tiền mặt. Kết quả kiểm kê phải được ghi vào phiếu kiểm kê (hoặc biên bản kiểm kê) và phải được các thành viên tổ kiểm kê ký xác nhận. Sau kiểm kê phải tổng hợp kết quả kiểm kê, nếu phát hiện chênh lệch thừa (hoặc thiếu) so với sổ sách phải được xác định nguyên nhân và kiến nghị biện pháp xử lý.
2. Bàn giao tài sản.
a) Toàn bộ tài sản của ngành Thống kê địa phương được chuyển giao theo nguyên trạng cho Tổng cục Thống kê; nghiêm cấm việc phân chia, nhượng bán, đổi chác, di chuyển, xáo trộn tài sản hoặc giữ lại tài sản để làm bất cứ việc gì trước khi bàn giao.
Căn cứ bàn giao là bảng cân đối tài khoản tại thời điểm bàn giao đã được cơ quan tài chính các cấp xét đuyệt.
Trường hợp cơ quan Thống kê đã sát nhập vào cơ quan kế hoạch địa phương thì Cục Thống kê tỉnh, thành phố bàn bạc, phối hợp với Uỷ ban kế hoạch kế hoạch Nhà nước tỉnh và Sở Tài chính lập phương án bàn giao, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định. Những Cục Thống kê hiện không quản lý đến cấp huyện thì UBND huyện và cấp hành chính tương đương tạo điều kiện thuận lợi về trụ sở làm việc đối với Phòng Thống kê huyện như các phòng ban khác ở địa phương.
Riêng đối với công tác bàn giao tổ chức, biên chế, qu-'fc tiền lương giữa ngành Thống kê địa phương với Tổng cục Thống kê được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 245/TT-LB ngày 15/6/1994 của Liên Bộ Tổng cục Thống kê - Ban tổ chức cán bộ Chính phủ.
b) Nội dung công tác bàn giao bao gồm :
b.1. Tài sản cố định : bàn giao toàn bộ TSCĐ hiện có trên bảng cân đối tài khoản tại thời điểm 1/8/1994 lập sau khi kiểm kê bao gồm :
TSCĐ đang dùng.
TSCĐ chưa dùng.
TSCĐ chờ thanh lý.
TSCĐ chưa cần dùng.
Đất đai và TSCĐ không tính khấu hao.
TSCĐ bàn giao theo nguyên giá và giá trị còn lại được thể hiện trên thẻ và sổ đăng ký TSCĐ. Số lượng và giá trị phải phù hợp với bảng cân đối tài khoản ở thời điểm bàn giao.
b.2. Tài sản lưu động : Do tính chất phức tạp của tài sản lưu động là luôn luôn biến động vì vậy ngoài kết quả theo biểu, phiếu kiểm kê và số liệu trên bảng cân đối tài khoản tại thời điểm 1/8/1994 lập sau khi kiểm kê phải cộng (+) hoặc trừ (-) các nội dung kinh tế phát sinh từ thời điểm kiểm kê đến khi bàn giao để xác định số liệu tại thời điểm bàn giao làm căn cứ ghi biên bản giao nhận.
Về vật tư, vật liệu, phụ tùng thay thế lấy theo giá nhập kho.
Vật rẻ tiền mau hỏng cũng lấy theo giá nhập kho, trường hợp vật rẻ tiền mau hỏng đang dùng; nếu đã phân bổ 50% thì lấy theo giá trị còn lại, vật rẻ tiền mau hỏng khi xuất dùng phân bổ 100% giá trị thì lấy hiện vật làm căn cứ bàn giao.
Các khoản phải thanh toán gồm các khoản phải thu, phải trả, các khoản tạm ứng, các khoản phải thanh toán khác : Đơn vị phải thanh toán dứt điểm trước khi bàn giao, trường hợp chưa thu hồi được phải có xác nhận của người nợ, chưa trả được phải xác định rõ lý do, nguyên nhân kèm theo biên bản bàn giao.
Tiền gửi Kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng phải có xác nhận số dư của Kho bạc hoặc Ngân hàng.
Tiền mặt tồn qu-'fc, các giấy tờ có giá trị như tiền phải kiểm qu-'fc và đối chiếu với sổ kế toán, số liệu phải chính xác, cân đối.
Đối với công trình xây dựng, sửa chữa dở dang phải bàn giao toàn bộ hồ sơ của công trình (thiết kế dự toán, giấy phép xây dựng, sửa chữa. . .), mức vốn đã cấp từ khi xây dựng, sửa chữa đến khi bàn giao để bên nhận tiếp tục theo dõi và quản lý.
b.3. Đất trụ sở: Bàn giao hồ sơ về quyền sử dụng đất hoặc các hồ sơ liên quan khác.
Ngoài ra, các cơ quan thống kê địa phương còn phải bàn giao toàn bộ hồ sơ tài liệu kế toán đang lưu giữ để đảm bảo căn cứ kiểm tra, kiểm soát và phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra sau này (nếu có).
3. Tiến độ thực hiện :
Kể từ tháng 8/1994 các đơn vị chuẩn bị kiểm kê và bàn giao (thành lập ban kiểm kê, đối chiếu thanh toán công nợ , giải quyết các công việc có liên quan đến kiểm kê, bàn giao, chuẩn bị các phương tiện phục vụ cho kiểm kê và bàn giao) theo từng cấp, cụ thể như sau :
Trong tháng 9/1994 thực hiện xong kiểm kê và tiến hành giao nhận từ cơ quan Thống kê quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc TW.
Trong thàng 10/1994 Cục Thống kê các tỉnh, thành phố tổng hợp kết quả kiểm kê, bàn giao, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh, Tổng cục Thống kê và Bộ Tài chính.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo các ngành: Thống kê, Tài chính và Uỷ ban nhân dân cấp dưới trong việc kiểm kê và bàn giao tài sản, kinh phí theo các quy định tại Thông tư này.
2. Cục Thống kê phối hợp với Sở Tài chính - Vật giá cấp tỉnh triển khai thực hiện phương án kiểm kê xác định tài sản, kinh phí và lập phương án bàn giao trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định trước khi bàn giao cho Tổng cục Thống kê quản lý.
3. Sở Tài chính - Vật giá có trách nhiệm đôn đốc hướng dẫn các cơ quan Thống kê cấp tỉnh, cấp huyện lập quyết toán cho chi 7 tháng đầu năm 1994, số liệu quyết toán tháng 8, tháng 9 và quý 4 năm 1994, thanh toán công nợ còn tồn đọng hết ngày 31/12/1994, kiểm kê qu-'fc tiền mặt và tiền gửi Kho bạc Nhà nước (kể cả các qu-'fc khác nếu có) để tiếp tục xét duyệt quyết toán năm 1994 và tổng hợp vào quyết toán chi của Ngân sách địa phương năm 1994. Từ năm 1995 trở đi kinh phí hoạt động của ngành Thống kê địa phương sẽ do Ngân sách Trung ương cấp và được quyết toán vào Ngân sách Trung ương.
4. Tổng cục Thống kê tổng hợp báo cáo kết quả kiểm kê, bàn giao (kể cả kết quả bàn giao tổ chức, biên chế, qu-'fc lương) gửi Bộ Tài chính để có căn cứ ghi tăng tài sản, vốn và kinh phí.
IV. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH.
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/8/1994. Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị các địa phương phản ánh kịp thời về Liên Bộ để giải quyết.