THÔNG TƯ Hướng dẫn quy trình và thủ tục xét duyệt quyết toán năm cho các doanh nghiệp nhà nước I . NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 1/ Tất cả các DNNN phải chấp hành nghiêm chỉnh chế độ báo cáo quyết toán và xét duyệt quyết toán của Nhà nước quy định trong Pháp lệnh kế toán và thống kê ngày 10/5/1988 của Hội đồng Nhà nước; Nghị định số 25/HĐBT ngày 18/3/1989 ban hành điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và những quy định cụ thể về quy trình và thủ tục xét duyệt quyết toán trong Thông tư này. Giám đốc và kế toán trưởng doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc lập báo cáo quyết toán kịp thời, chính xác, trung thực. Nếu vi phạm thì sẽ xử phạt theo điều 44 chương IV của Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước ban hành kèm theo Nghị định 25 - HĐBT ngày 18/3/1989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), hoặc xử phạt theo điểm 5, điều 11 chương III Điều lệ kế toán trưởng ban hành kèm theo Nghị định 26/HĐBT ngày 18/3/1989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). 2/ Việc xét duyệt quyết toán năm cho các DNNN nhằm đảm bảo tính chính xác và hợp lệ của các số liệu trong báo cáo quyết toán, xác định đúng đắn kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sau một năm hoạt động, trên cơ sở đó công nhận về mặt pháp lý nghĩa vụ nộp Ngân sách và quyền lợi của doanh nghiệp được hưởng theo chế độ Nhà nước quy định hiện hành. 3/ Thông qua xét duyệt quyết toán để đánh giá đúng hiệu quả sử dụng bảo toàn và phát triển vốn, cũng như việc phát hành luật, chính sách, chế độ tài chính của các doanh nghiệp và có biện pháp xử lý, ngăn ngừa các vi phạm, nhằm tăng cường kỷ luật Nhà nước, bảo đảm cho các chính sách, chế độ quản lý kinh tế, tài chính được chấp hành nghiêm minh, bảo vệ tài sản Nhà nước không bị thất thoát dưới mọi hình thức. 4/ Thông qua xét duyệt quyết toán giúp doanh nghiệp đánh giá đúng đắn những mặt mạnh, mặt yếu, những tiềm năng chưa được khai thác, cũng như những biện pháp tháo gỡ khó khăn vướng mắc nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Thấy rõ những mặt tồn tại để có biện pháp nâng cao chất lượng công tác hạch toán kế toán và phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. 5/ Việc xét duyệt quyết toán hàng năm của doanh nghiệp là cơ sở để thực hiện công khai hoá tài chính doanh nghiệp, thực hiện vai trò kiểm tra kiểm soát của Nhà nước và tập thể công nhân viên chức đối với hoạt động của doanh nghiệp. II. ĐỐI TƯỢNG XÉT DUYỆT QUYẾT TOÁN Đối tượng xét duyệt quyết toán năm là các LHXN, Tổng công ty, công ty hạch toán kinh tế độc lập và tập trung; các đơn vị xí nghiệp quốc doanh hạch toán kinh tế độc lập (gọi chung là DNNN) kể cả các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc Bộ Quốc phòng, Nội vụ... được Nhà nước ra quyết định thành lập. Đối với các LHXN, Tổng công ty không hạch toán tập trung thì đối tượng xét duyệt quyết toán là các xí nghiệp hạch toán kinh tế độc lập trực thuộc Liên hiệp, Tổng công ty và các đơn vị sản xuất kinh doanh do Liên hiệp, Tổng công ty trực tiếp quản lý. III. NỘI DUNG XÉT DUYỆT QUYẾT TOÁN 1/ Vốn cố định, vốn lưu động và các loại vốn, các loại quỹ khác của doanh nghiệp. Xác định chính xác số liệu về các loại vốn, các loại quỹ ; tính đúng đắn và hợp pháp của việc hình thành các loại vốn, nguồn vốn, quỹ ; tình hình hư hỏng, mất mát, thanh lý tài sản; trích lập và sử dụng vốn khấu hao cơ bản, khấu hao sửa chữa lớn, nguyên nhân tăng giảm vốn; tình hình bảo toàn và phát triển vốn, tình hình sử dụng các qũy đầu tư XDCB, quỹ khuyến khích phát triển sản xuất, quỹ khen thưởng và phúc lợi. 2/ Doanh thu của doanh nghiệp. Xác định chính xác số liệu về tổng doanh thu của doanh nghiệp, trong đó bao gồm các loại doanh thu sản xuất chính, doanh thu sản xuất phụ, các khoản doanh thu về hoạt động kinh doanh ngoài cơ bản, làm cơ sở xác định các loại thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 3/ Chi phí sản xuất của doanh nghiệp Xem xét tính hợp lý, hợp lệ của từng loại chi phí, việc chấp hành các chính sách chế độ tài chính và hạch toán đúng về giá cả vật tư, hàng hoá, mức tiêu hao nguyên nhiên vật liệu, trả lương trả thưởng cho cán bộ công nhân viên chức, thực hiện các khoản chi phí chung chi phí trích trước, chi phí chờ phân bổ đúng với các quy định hiện hành, tránh tình trạng tăng giả tạo chi phí sản xuất để giảm thuế lợi tức phải nộp, hoặc ngược lại giảm giả tạo chi phí sản xuất để ăn vào vốn. 4/ Kết quả sản xuất kinh doanh phân phối thu nhập. Xác định rõ các khoản lãi (lỗ) phát sinh, các khoản thuế và các khoản khác phải nộp trong năm quyết toán, tính toán số lợi tức được để lại để trích lập các quỹ XN. 5/ Quan hệ với Ngân sách. Xác định các khoản nộp Ngân sách và Ngân sách cấp cho doanh nghiệp, trong đó có chia ra: số thừa (thiếu) năm trước chuyển sang, số phải nộp, đã nộp, (phải cấp, đã cấp) và số thừa (thiếu) chuyển năm sau. 6/ Nhận xét và xử lý quyết toán: Cần nêu nhận xét tóm tắt tình hình sản xuất kinh doanh hiệu quả sử dụng vốn, bảo toàn và phát triển vốn, tình hình chấp hành pháp luật, chính sách chế độ kinh tế tài chính, chế độ kế toán và những quyết định xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm tra quyết toán đã phát hiện được. IV. THẨM QUYỀN XÉT DUYỆT QUYẾT TOÁN CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp chủ trì phối hợp cùng với cơ quan quản lý tài chính cùng cấp để xét duyệt quyết toán cho các đơn vị cơ sở, cụ thể: 1/ Bộ chủ quản chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính, có sự tham gia của Cục thuế địa phương tiến hành xét duyệt quyết toán cho các đơn vị kinh tế quốc doanh Trung ương trực thuộc Bộ . 2/ Sở chủ quản ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ trì phối hợp với Sở Tài chính và Cục thuế địa phương tiến hành xét duyệt Quyết toán cho các đơn vị kinh tế quốc doanh trực thuộc địa phương. 3/ Đối với các XN cấp quận, huyện, thì do UBND quận, huyện chủ trì xét duyệt quyết toán, có phòng Tài chính và chi Cục thuế tham gia. 4/ Bộ (Sở) chủ quản chủ trì xét duyệt quyết toán cho các xí nghiệp trực thuộc Liên hiệp, Tổng công ty không hạch toán tập trung (LHXN mềm). Bộ (Sở) chủ quản có thể uỷ nhiệm cho Liên hiệp, Tổng công ty, công ty chủ trì xét duyệt quyết toán cho một số đơn vị nhỏ trực thuộc. Còn đối với các Liên hiệp xí nghiệp, Tổng công ty, công ty hạch toán tập trung (LHXN cứng) thì do Bộ (Sở) chủ quản chủ trì xét duyệt. LHXN, Tổng công ty, công ty chủ trì xét duyệt cho các đơn vị trực thuộc. Trường hợp Bộ Tài chính không có điều kiện cử người tham gia kiểm tra quyết toán tại đơn vị thì uỷ quyền cho các Sở Tài chính và Cục thuế Địa phương kiểm tra quyết toán, ký xác nhận vào biên bản kiểm tra số liệu quyết toán (mẫu số 1) để làm cơ sở xét duyệt quyết toán. V. QUY TRÌNH XÉT DUYỆT QUYẾT TOÁN - Sau khi nhận được báo cáo quyết toán của đơn vị, cơ quan chủ quản thực hiện ngay việc lập kế hoạch kiểm tra quyết toán và gửi thông báo cho XN biết về thời gian và nội dung kiểm tra quyết toán để chuẩn bị, đồng thời gửi thông báo cho cơ quan tài chính đồng cấp và cơ quan thuế biết để cử người phối hợp tham gia. - Thành lập tổ chuyên viên để kiểm tra số liệu quyết toán trước khi duyệt, bao gồm: + Chuyên Viên Vụ tài vụ Bộ (Sở) chủ quản + Chuyên viên quản lý chuyên ngành của Vụ tài Vụ Bộ Tài chính + Chuyên viên Cục thuế Địa phương Các chuyên viên này cần nghiên cứu kỹ quyết toán và báo cáo kế toán có liên quan trước khi xuống cơ sở kiểm tra số liệu quyết toán. - Việc kiểm tra quyết toán năm được tiến hành tại đơn vị cơ sở nhằm xác định tính chính xác của các số liệu trong báo cáo quyết toán. Giám đốc và kế toán trưởng của XN có trách nhiệm đáp ứng mọi yêu cầu về cung cấp tài liệu cần thiết phục vụ cho việc kiểm tra quyết toán và chịu trách nhiệm trước Nhà nước về sự trung thực, chính xác của các số liệu đã ghi trong báo cáo quyết toán. - Kết thúc kiểm tra, các chuyên viên cùng đơn vị lập biên bản kiểm tra số liệu Quyết toán theo mẫu thống nhất (mẫu số 1). + Nếu trong trường hợp không nhất trí về quan điểm xử lý một số vấn đề giữa tổ kiểm tra quyết toán với đơn vị hoặc giữa các thành viên của tổ kiểm tra thì các bên được bảo lưu ý kiến và trình lãnh đạo các cơ quan cho ý kiến giải quyết. + Nếu đơn vị cơ sở nhất trí với số liệu và cách xử lý của tổ kiểm tra thì các chuyên viên có trách nhiệm báo cáo với lãnh đạo có thẩm quyền của Bộ (Sở) chủ quản Bộ (Sở ) Tài chính và cục thuế địa phương xem xét. Trường hợp các số liệu đã rõ ràng và không có vướng mắc thì lãnh đạo có thẩm quyền các cơ quan nói trên có thể duyệt y vào biên bản đó để chuyển cho Bộ (Sở) chủ quản ra thông báo duyệt y quyết toán. - Nếu biên bản kiểm tra Quyết toán còn tồn tại những vấn đề không thống nhất về quan điểm và cách xử lý của tổ kiểm tra thì cơ quan chủ quản sẽ tổ chức họp duyệt quyết toán để giải quyết các vướng mắc. Thành phần bao gồm các cấp có thẩm quyền của: + Cơ quan chủ quản (Bộ hoặc Sở chủ quản) + Cơ quan Tài chính (Bộ hoặc Sở Tài chính: Vụ Tài chính chuyên ngành và Cục thuế hoặc Chi Cục thuế) + Đơn vị được duyệt quyết toán. Biên bản cuộc họp sẽ được lập theo mẫu thống nhất (mẫu số 2) Đối với các Liên hiệp xí nghiệp, Tổng công ty lớn hạch toán toàn ngành và có vai trò quan trọng trong KTQD thì do cấp Thứ trưởng Bộ chủ quản và Thứ trưởng Bộ Tài chính chủ trì duyệt quyết toán. Trường hợp cấp Thứ trưởng không tham gia được thì uỷ quyền cho cấp Vụ tham gia. Các đơn vị còn lại do cấp Vụ của Bộ chủ quản và Bộ Tài chính chủ trì xét duyệt. Trường hợp có vướng mắc ngoài phạm vi chế độ chính sách mà lãnh đạo vụ không đủ thẩm quyền giải quyết thì báo cáo lãnh đạo 2 Bộ xin ý kiến giải quyết. Căn cứ vào báo cáo và biên bản xét duyệt quyết toán, cơ quan chủ quản ra văn bản duyệt y quyết toán chính thức cho đơn vị. - Đối với báo cáo quyết toán năm của đơn vị đã được tổ chức kiểm toán hợp pháp kiểm tra xác nhận, thì cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý Tài chính thuộc Bộ Tài chính (sau khi có ý kiến của Cục thuế Địa phương về các khoản thu nộp Ngân sách) có thể xem xét sử dụng kết quả kiểm toán để xét duyệt quyết toán năm cho đơn vị. - Đơn vị phải nộp báo cáo quyết toán đúng hạn theo quy định của Pháp lệnh thống kê kế toán và trong thời hạn tối đa là 30 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo của các đơn vị cơ quan chủ quản phải chủ trì tổ chức kiểm tra, xét duyệt và gửi văn bản duyệt y Quyết toán cho đơn vị (mẫu số 3). Nói chung việc xét duyệt quyết toán cho các doanh nghiệp cần được làm chặt chẽ kịp thời không gây phiền hà cho cơ sở. VI. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH: 1/ Các chuyên viên tham gia kiểm tra số liệu quyết toán và các cấp có thẩm quyền xét duyệt quyết toán phải đảm bảo tính chính xác, trung thực và kịp thời trong qúa trình kiểm tra số liệu xét duyệt quyết toán. Trường hợp có vi phạm thì tuỳ theo lỗi nặng nhẹ để xử phạt theo Pháp luật. 2/ Thông tư này được áp dụng cho việc kiểm tra và xét duyệt cho các doanh nghiệp Nhà nước kể từ quyết toán năm 1993 và thay thế Thông tư 03 TC/VKH ngày 27 tháng 2 năm 1992 của Bộ Tài chính. Các văn bản hướng dẫn của các Bộ và địa phương trái với Thông tư này đều không có hiệu lực thi hành. Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn vướng mắc, đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để nghiên cứu có ý kiến giải quyết ./.