THÔNG TƯ Hướng dẫn tạm thời chế độ quản lý, cấp phát vốn và kinh phí dự trữ Quốc gia Nhằm quản lý chặt chẽ và sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả nguồn vốn Ngân sách Nhà nước cấp cho Cục Dự trữ Quốc gia
Căn cứ vào ý kiến của Thủ tướng Chính phủ về kế hoạch dự trữ Quốc gia năm 1994 và định hướng công tác dự trữ Quốc gia tại Thông báo số 283/TB ngày 17-12-1993 của Văn phòng Chính phủ
Sau khi trao đổi thống nhất với Cục Dự trữ Quốc gia, Bộ Tài chính hướng dẫn tạm thời chế độ quản lý, cấp phát vốn và kinh phí Dự trữ Quốc gia như sau: I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 1- Cục Dự trữ Quốc gia có trách nhiệm quản lý chặt chẽ và sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ, tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn vốn, kinh phí Ngân sách Nhà nước cấp, bao gồm : - Vốn đầu tư xây dựng cơ bản; - Vốn dự trữ vật tư hàng hóa; - Kinh phí cho hoạt động của bộ mày quản lý và nghiệp vụ bảo quản hàng hoá dự trữ; kinh phí nghiên cứu khoa học và các nguồn vốn, kinh phí khác. 2- Việc quản lý tài sản, cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí cho hoạt động của bộ máy quản lý, kinh phí sửa chữa lớn, xây dựng nhỏ và kinh phí nghiên cứu khoa học được thực hiện theo đúng các quy định hiện hành của Nhà nước. II/ NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ 1- Quản lý cấp phát vốn mua vật tư, hàng hoá dự trữ. a- Vốn mua vật tư, hàng hoá dự trữ bao gồm giá mua và phí mua vật tư hàng hoá. Giá mua là giá thanh toán với người bán theo hợp đồng mua bán và hoá đơn, chứng từ mua hàng. Phí mua là khoản chi phí phát sinh trong quá trình mua vật tư, hàng hoá xếp vào kho dự trữ, như chi phí vận chuyển, bốc dỡ, kiểm nhận, sát trùng (đối với thóc) và các chi phí khác có liên quan. Mức giá và phí mua được thực hiện theo quy định của cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước. b-
Căn cứ để Bộ Tài chính cấp phát vốn mua vật tư, hàng hoá dự trữ là: - Kế hoạch nhập, xuất vật tư, hàng hoá và kế hoạch vốn dự trữ Quốc gia được Chính phủ phê duyệt ; - Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về nhập xuất vật tư, hàng hoá dự trữ Quốc gia ngoài kế hoạch; - Dự toán vốn, phí mua vật tư, hàng hoá dự trữ của Cục dự trữ Quốc gia được phân theo từng đợt mua; - Hợp đồng mua bán vật tư hàng hoá dự trữ (nếu có); - Báo cáo tiến độ nhập, xuất vật tư, hàng hoá dự trữ; tình hình sư dụng vốn dự trữ đã cấp và tiền thu về bán vật tư, hàng hoá dự trữ. c- Cấp phát vốn mua vật tư hàng hoá dự trữ: - Toàn bộ tiền bán vật tư, thiết bị dự trữ Quốc gia theo kế hoạch hàng năm, Cục dự trữ Quốc gia được giữ lại trong tài khoản của Cục tại Kho bạc Nhà nước để Cục chủ động mua vật tư, thiết bị tăng dự trữ Quốc gia hoặc để chi tiêu cho các nhu cầu khác theo kế hoạch; cuối năm quyết toán, nếu còn dư nộp vào Ngân sách Nhà nước. Tiền bán vật tư, hàng hoá ngoài kế hoạch theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Cục dự trữ Quốc gia nộp đầy đủ, kịp thời vào Ngân sách Nhà nước. Phí bán vật tư, hàng hoá được trừ vào tiền bán. Trường hợp xuất vật tư hàng hoá dự trữ không thu tiền hoặc xuất cho vay theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ thì phí xuất do đơn vị nhận hàng thanh toán theo mức phí bán vật tư hàng hoá cùng loại do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước quy định. Cục dự trữ Quốc gia sử dụng tiền bán vật tư, hàng hoá được giữ lại để mua vật tư hàng hoá dự trữ Quốc gia theo kế hoạch được duyệt. Trong phạm vi kế hoạch vốn dự trữ được Thủ tướng Chính phủ duyệt, Bộ Tài chính bảo đảm cấp phát kịp thời khoản chênh lệch giữa vốn mua vật tư, hàng hoá dự trữ (theo tiến độ thực hiện từng đợt mua) và tiền bán vật tư, hàng hoá được giữ lại chưa sử dụng. d- Thưởng tiết kiệm phí mua, bán vật tư hàng hoá dự trữ Quốc gia: Trường hợp tiết kiệm phí mua, bán vật tư hàng hoá dự trữ so với mức phí được cơ quan có thẩm quyền duyệt, Cục dự trữ Quốc gia được trích thưởng 50% số tiền tiết kiệm. Việc trích thưởng tiết kiệm chỉ được thực hiện sau khi có quyết toán được duyệt theo chế độ quy định. Tiền thưởng tiết kiệm phí được dùng để trích lập quỹ khen thưởng, phúc lợi và bổ sung kinh phí hoạt động dự trữ Quốc gia do Cục trưởng Cục dự trữ Quốc gia quyết định sau khi có sự thoả thuận thống nhất của Bộ Tài chính. Trường hợp chi vượt mức phí quy định, Cục dự trữ Quốc gia có trách nhiệm tự bù đắp phần vượt. 2- Cấp phát kinh phí bảo quản vật tư, hàng hoá dự trữ Quốc gia: Phí bảo quản vật tư hàng hoá dự trữ Quốc gia bao gồm phí kê lót kho chứa và phí bảo quản thường xuyên. Bộ Tài chính thực hiện cấp phát kinh phí bảo quản cho Cục dự trữ Quốc gia theo chế độ cấp phát kinh phí sự nghiệp hiện hành, dựa trên các căn cứ sau: - Kế hoạch kinh phí bảo quản năm được duyệt; - Báo cáo tình hình thực hiện kinh phí bảo quản quý trước; - Dự toán kinh phí bảo quản trong quý có chia ra từng tháng. Kinh phí bảo quản trong quý được xác định trên cơ sở khối lượng vật tư hàng hoá dự trữ bình quân trong tháng, quý và định mức chi phí bảo quản do Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước ban hành. Cục dự trữ Quốc gia có trách nhiệm quản lý chặt chẽ và sử dụng đúng mục đích kinh phí bảo quản được Ngân sách Nhà nước cấp phát để bảo quản vật tư hàng hoá dự trữ Quốc gia theo đúng quy trình kỹ thuật, tránh để xảy ra mất mát, hư hỏng vật tư, hàng hoá dự trữ. Trường hợp tiết kiệm phí bảo quản so với định mức chi phí bảo quản do Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước ban hành, Cục dự trữ Quốc gia được trích thưởng 50% số tiền tiết kiệm, việc trích và sử dụng tiền thưởng tiết kiệm phí bảo quản được thực hiện như đối với thưởng tiết kiệm phí mua, bán vật tư hàng hoá quy định tại điểm 1. d.., mục II trên đây. 3- Về việc sử dụng tiền thanh lý tài sản và vật tư nội bộ : Cục dự trữ Quốc gia được giữ lại và sử dụng số tiền thanh lý tài sản, vật tư nội bộ để bổ sung nguồn Ngân sách chi cho việc sửa chữa cơ sở vật chất, thanh toán tiền mua kho, xây dựng cơ bản trước đây còn đọng lại theo những quy định sau : - Cục dự trữ Quốc gia tiến hành kiểm kê tài sản hiện có theo chế độ kiểm kê tài sản hiện hành của Nhà nước; phân loại, lập hồ sơ tài sản cần thanh lý và tiến hành thanh lý tài sản theo chế độ thanh, xử lý tài sản hiện hành của Nhà nước. Đối với vật tư nội bộ tồn kho từ nhiều năm nay, Cục dự trữ Quốc gia cần thành lập hội đồng để tiến hành kiểm kê định giá và phân loại theo nguồn vốn hình thành. - Đối với loại vật tư thu hồi do thanh lý tài sản hoặc vật tư nội bộ được tận dụng đưa vào sửa chữa cơ sở vật chất, Cục dự trữ Quốc gia xác định đúng giá trị còn lại phù hợp với giá thị trường, tổng hợp gửi Bộ Tài chính kèm theo báo cáo khối lượng thực hiện và các tài liệu khác có liên quan theo quy định để Bộ Tài chính làm thủ tục ghi thu, ghi chi qua Ngân sách Nhà nước hoặc điều chỉnh tăng giảm nguồn vốn (đối với vật tư nội bộ). - Tiền bán vật tư nội bộ và vật tư thu hồi do thanh lý tài sản, sau khi trừ chi phí thanh lý, Cục dự trữ Quốc gia tổng hợp báo cáo Bộ Tài chính để bổ sung kinh phí sửa chữa lớn, thanh toán tiền mua kho, xây dựng cơ bản trước đây còn đọng lại theo hình thức ghi thu, ghi chi qua Ngân sách Nhà nước hoặc điều chỉnh tăng, giảm nguồn vốn (đối với vật tư nội bộ). Việc cấp phát, thanh toán cho các mục đích trên được thực hiện theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước. III/ ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày ký, các quy định trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Riêng khoản phí kê lót trong năm 1994 (trừ tiền mua pa lét) vẫn được tính vào phí mua vật tư hàng hoá. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị Cục dự trữ Quốc gia phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi cho phù hợp./.