THÔNG TƯ Hướng dẫn bổ sung, sửa đổi chế độ quản lý thu thuế đối với ngành khai thác thuỷ sản Thi hành Luật thuế doanh thu, thuế lợi tức, Pháp lệnh thuế tài nguyên, Bộ Tài chính đã có Thông tư số 30 TC/TCT ngày 23/5/1991 hướng dẫn chế độ quản lý thu thuế đối với ngành khai thác thuỷ sản. Sau một thời gian thực hiện,
căn cứ vào thực tiễn quản lý thu thuế đối với ngành khai thác thuỷ sản, Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung, sửa đổi một số điểm tại Thông tư số 30 TC/TCT ngày 23/5/1991 như sau : 1- Bổ sung vào cuối tiết a, điểm 2, mục II của Thông tư số 30 TC/TCT ngày 23/5/1991 của Bộ Tài chính : Việc xác định sản lượng khoán tính thuế cần
căn cứ vào công suất (CV) của phương tiện đối với từng ngành nghề khai thác và khi xác định sản lượng khoán, thì Cục thuế ở những Tỉnh Thành phố có cùng ngư trường khai thác cần trao đổi thống nhất về dự kiến mức khoán sản lượng và giá tính thuế trước khi công bố sản lượng khoán tính thuế để áp dụng thu thuế thống nhất trong từng thời kỳ ở cùng ngư trường khai thác. 2 - Sửa đổi quy định về quản lý thu thuế, thoái thu thuế tài nguyên do di chuyển ngư trường khai thác tại tiết b, điểm 3 mục III : Cơ sở nộp thuế theo phương pháp khoán, khi di chuyển ngư trương khai thác được tạm hoãn nộp thuế tài nguyên, thuế doanh thu ở nơi đăng ký hộ khẩu, đăng ký kinh doanh (dưới đây gọi chung là nơi đăng ký kinh doanh) cho thời gian chuyển đi ngư trường khác phải thực hiện nộp thuế tài nguyên, thuế doanh thu theo mức khoán tại nơi di chuyển đến. Thuế lợi tức nộp tại nơi đăng ký kinh doanh với tỷ lệ 1% doanh thu tính thuế doanh thu đã nộp tại nơi đến khai thác, cụ thể thực hiện như sau : a- Trường hợp nơi đăng ký kinh doanh chỉ thực hiện khoán thuế cho từng mùa vụ khai thác, mà đã khai thác hết mùa vụ thì phải nộp đủ số thuế phải nộp tại địa phương đăng ký trước khi di chuyển ngư trường khác (không được hoãn nộp). b- Trường hợp Địa phương nơi đăng ký kinh doanh thực hiện khoán thuế cho cả năm, thì cơ sở khai thác được tạm hoãn nộp số thuế tài nguyên, doanh thu còn phải nộp đã lên sổ bộ trong thời gian di chuyển ngư trường, nhưng phải thanh toán dứt điểm số thuế còn phải nộp trước khi được xem xét tạm hoãn nộp thuế. Việc xét tạm hoãn nộp thuế do Chi Cục trưởng Chi Cục thuế quyết định. Hồ sơ xin tạm hoãn nộp thuế tài nguyên, doanh thu gồm có : + Đơn xin tạm hoãn nộp thuế do di chuyển ngư trường của hộ khai thác. (Ghi rõ thời gian di chuyển ngư trường, số thuế phải nộp, số thuế đã nộp, số thuế còn phải nộp theo sổ thuế trước khi di chuyển ngư trường, và số thuế tài nguyên doanh thu xin tạm hoãn). + Giấy phép di chuyển ngư trường (bản sao có xác nhận của UBND phường, xã nơi đăng ký hộ khẩu). Khi nhận được hồ sơ trên, đội thuế phường xã xem xét số thuế tạm hoãn của hộ khai thác do di chuyển ngư trường, lập danh sách đề nghị Chi Cục trưởng Chi Cục thuế Quận, Huyện xét duyệt và thông báo bằng văn bản cho hộ ngư dân biết việc tạm hoãn nộp thuế tài nguyên, doanh thu để làm căn cứ xem xét trừ số thuế phải nộp cho cở sở khai thác. Chậm nhất 15 ngày kể từ ngày có Quyết định tạm hoãn, chi Cục thuế Quận, Huyện phải báo cáo với Cục thuế số thuế tài nguyên, doanh thu đã tạm hoãn cho các cơ sở khai thác do di chuyển ngư trường.
Sau khi khai thác trở về, trong thời hạn 30 ngày kể từ khi hết thời hạn di chuyển ngư trường khai thác, cơ sở khai thác phải xuất trình với đội thuế xã phường với địa phương đăng ký kinh doanh biên lai thuế doanh thu, thuế tài nguyên đã nộp tại nơi khai thác phù hợp với thời gian ghi trong giấy phép di chuyển ngư trường.
Căn cứ vào biên lai thuế đã nộp của hộ khai thác gửi đến, đối chiếu với hồ sơ, quyết định tạm hoãn nộp thuế, đội thuế phường xã xác nhận số thuế được trừ của hộ khai thác và gửi hồ sơ về Chi Cục thuế Quận Huyện. Chi Cục thuế thực hiện kiểm tra, quyết định số thuế đã nộp tại nơi khai thác được giảm trừ vào số phải nộp tại nơi đăng ký . Số thuế được giảm trừ tại nơi đăng ký kinh doanh là số thuế thực tế đã nộp ghi trên biên lai thu thuế tại nơi khai thác, nhưng số được giảm trừ tối đa không được cao hơn số thuế tài nguyên, doanh thu khoán phải nộp của thời kỳ đó đã lập sổ thuế tại nơi đăng ký kinh doanh. Trong thời hạn 15 ngày sau khi nhận được hồ sơ đề nghị giảm trừ thuế đã nộp của đội thuế phường xã gửi đến, Chi Cục trưởng Chi Cục thuế phải thông báo cụ thể cho các hộ biết thực hiện. Mọi trường hợp di chuyển ngư trường khai thác, hộ ngư dân đều phải đăng ký, kê khai nộp thuế với cơ quan thuế nơi đến và địa phương nơi cơ sở đăng ký kinh doanh. Nếu không kê khai nộp thuế theo đúng quy định sẽ bị truy thu tiền thuế phải nộp và bị xử phạt về vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế theo quy định tại Nghị định số 01/CP ngày 18/10/1992 của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế. 3- Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày ký. Các nội dung khác không nêu trong Thông tư này vẫn thực hiện theo quy định tại Thông tư số 30 TC/TCT ngày 23/5/1991 của Bộ Tài chính. Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn vướng mắc yêu cầu các đơn vị, các địa phương cần phản ánh về Bộ Tài chính để xem xét giải quyết.