THÔNG TƯ Về việc hướng dẫn xử lý xe 2 bánh gắn máy có nguồn gốc nhập khẩu trái phép đang lưu hành trong dân Thi hành Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 6567/KTTH ngày 22/11/1994 V/v xử lý số xe 2 bánh gắn máy đang lưu hành nhưng có nguồn gốc nhập trái phép.
Sau khi bàn thống nhất với Bộ Thương mại, Tổng cục Hải quan, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính hướng dẫn việc xử lý xe 2 bánh gắn máy có nguồn gốc nhập khẩu trái phép đang xử dụng trong nhân dân như sau: I- ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC GIẢI QUYẾT 1. Những người có xe 2 bánh gắn máy có nguồn gốc nhập khẩu trái phép đang sử dụng hoặc đã được các địa phương cho tạm đăng ký sử dụng thì được nộp thuế nhập khẩu và nộp phạt hành chính, nộp lệ phí trước bạ mỗi người một chiếc để đăng ký lưu hành chính thức. 2. Những người có xe 2 bánh gắn máy có nguồn gốc nhập khẩu trái phép có tính chất buôn bán từ chiếc thứ 2 trở lên đã hoặc chưa tạm đăng ký để sử dụng thì đều coi là hàng nhập lậu và bị xử lý tịch thu. 3. Các đối tượng quy định ở điểm 1 và điểm 2 nêu trên, phải đến kê khai danh sách (ghi rõ họ tên, địa chỉ nơi thường trú, nhãn hiệu xe, đời xe, số khung, số máy, nguồn gốc xe) tại cơ quan do UBND Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương chỉ định (cơ quan thuế hoặc cơ quan Hải quan). Chậm nhất đến hết ngày 15/12/1994 UBND các Tỉnh, Thành phố tổng hợp gửi báo cáo cho các Bộ Tài chính , Nội vụ, Tổng cục Hải quan về số lượng xe nhập khẩu trái phép, số xe đã được đăng ký chính thức, số xe xử lý tịch thu. II- THỦ TỤC THU THUẾ, LỆ PHÍ ...VÀ CHO ĐĂNG KÝ LƯU HÀNH XE 1. Người có xe 2 bánh gắn máy có nguồn gốc nhập khẩu trái phép phải tự làm đơn xin làm thủ tục Hải quan (trong đơn phải cam đoan ghi rõ là không phải xe trộm cắp). 2. Khai báo, đăng ký Hải quan. 3. Cơ quan Hải quan kiểm tra thực tế xe máy (kiểm hoá) ghi rõ số khung, số máy, tình trạng xe. 4. Nộp thuế nhập khẩu và nộp phạt: Các đối tượng nói ở điểm 1 phần I nêu trên được nộp thuế và phạt theo mức quy định dưới đây: a. Thuế suất thuế nhập khẩu: Theo Biểu thuế nhập khẩu hiện hành tại thời điểm đăng ký tờ khai Hải quan. b. Giá tính thuế
Căn cứ vào giá xe 2 bánh gắn máy ghi trong bảng giá tính thuế tối thiểu ban hành kèm theo Quyết định số 624 TC/TCT/ ngày 26/7/1994 của Bộ Tài chính để áp dụng. Trường hợp những xe không có trong bảng giá nêu trên thì do Tổng cục Hải quan hướng dẫn theo đúng nguyên tắc quy định tại
Điều 7 Nghị định số 54-CP ngày 28/8/1993 của Chính phủ.
c. Mức phạt vi phạm hành chính đối với mỗi xe là 200.000đồng (hai trăm ngàn).
5. Nộp lệ phí trước bạ: Sau khi nộp thuế nhập khẩu, nộp phạt chủ xe phải nộp lệ phí trước bạ cho cơ quan thuế theo mức lệ phí trước bạ hiện hành.
6. Trường hợp trước đây nếu chủ xe máy đã nộp tiền thuế, lệ phí trước bạ và tiền phạt do địa phương quy định để được tạm thời lưu hành xe, thì sẽ được khấu trừ phần đã nộp, đồng thời truy thu phần còn thiếu về tiền thuế nhập khẩu, tiền phạt và lệ phí trước bạ tính theo quy định tại Thông tư này. Phần đã nộp trước đây có chênh lệch thừa so với mức tính theo quy định tại Thông tư này (nếu có) thì chủ xe không được hoàn lại số tiền nộp thừa.
Trường hợp nêu trên chủ xe phải nộp cho Tổ công tác xử lý (quy định dưới đây) bản xác nhận của cơ quan Cảnh sát giao thông nơi đăng ký về số tiền thuế, lệ phí trước bạ, tiền phạt (nếu có) đã nộp.
7. Thủ tục đăng ký lưu hành đối với xe thuộc đối tượng trên phải có:
Tờ khai nhập khẩu hàng phi mậu dịch (bản chính).
Biên lai thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mẫu CTT-12A (bản chính) trong đó có ghi rõ số khung, số máy.
Biên lai thu lệ phí trước bạ (bản chính).
Biên lai thu tiền, mẫu CTT-11 (bản chính) để thu tiền phạt vi phạm hành chính.
Mỗi Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương thành lập một tổ công tác xử lý (bao gồm các thành viên Công an, Thuế, Hải quan, do thành viên Hải quan làm tổ trưởng, những địa phương không có cơ quan Hải quan thì do thành viên Thuế làm tổ trưởng tổ công tác) để giúp UBND Tỉnh, Thành phố chỉ đạo việc kê khai, xét duyệt và tổ chức làm thủ tục Hải quan, thu thuế, lệ phí, đăng ký lưu hành xe...
8. Số tiền truy thu thuế nhập khẩu và tiền thu phạt, cơ quan Hải quan nộp vào tài khoản 922 "Tạm giữ chờ xử lý" của Sở Tài chính Tỉnh, Thành phố, ghi theo dõi riêng và được phân phối như sau:
50% (năm mươi phần trăm) để lại cho địa phương để chi phí cho việc có liên quan đến công tác này, số còn lại bổ sung cho NS Địa phương hạch toán vào mục 47 - Thu khác Ngân sách.
50% (năm mươi phần trăm) nộp ngay về NS Trung ương hạch toán vào mục 33 - Thu khác về thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu.
III- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. UBND các Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng (Công an, Thuế, Hải quan) làm tập trung dứt điểm việc kê khai nộp thuế, nộp phạt, nộp lệ phí trước bạ, và đăng ký lưu hành cho xe máy của các đối tượng nêu tại Điểm 1, phần I của Thông tư này. Ở các Tỉnh, Thành phố không có Hải quan, UBND Tỉnh, Thành phố bàn với Tổng cục Hải quan chỉ định cơ quan Hải quan của tỉnh lân cận để phối hợp trong việc tổ chức thực hiện theo đúng quy định.
2. UBND Tỉnh, Thành phố chỉ đạo các cơ quan chức năng trong Tỉnh, Thành phố thi hành nghiêm chỉnh Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và tinh thần Thông tư này; Đảm bảo thông tin cho mọi đối tượng, mọi tầng lớp nhân dân biết nhanh, không phiền hà, tránh để tư thương lợi dụng mua bán kiếm lời.
3. Sau khi đã làm xong thủ tục kê khai chậm nhất đến hết ngày 15 tháng 2 năm 1995 (mười lăm tháng hai) phải hoàn thành thủ tục đăng ký lưu hành xe.
4. Hết thời hạn xử lý nêu trên, chậm nhất trong vòng 7 (bẩy) ngày, Tổ công tác xử lý các Tỉnh, Thành phố phải tập hợp báo cáo kết quả toàn bộ số lượng xe máy đã làm thủ tục, số thuế nhập khẩu, số tiền phạt và lệ phí trước bạ đã thu được về Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Thương mại, Tổng cục Hải quan và UBND các Tỉnh, Thành phố có xe nhập khẩu trái phép để có cơ sở tổng hợp báo cáo Chính phủ.
5. Hết thời hạn đăng ký lưu hành xe nói trên, đề nghị Bộ Nội vụ tổ chức kiểm tra, nếu phát hiện xe có nguồn gốc nhập khẩu trái phép mà chưa làm thủ tục đăng ký lưu hành xe theo quy định tại Thông tư này đều bị xử lý tịch thu.
6. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký./.