QUYẾT ĐỊNH Về việc phê duyệt chương trình giảm nghèo tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2011 - 2015 ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003
Căn cứ Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng giai đoạn 2011-2015;
Căn cứ Kết luận số 94-KL/TU ngày 07/9/2010 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XI) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TU của Tỉnh ủy (khóa X) về xóa đói, giảm nghèo, đầu tư cơ sở hạ tầng xã nghèo và hỗ trợ nhà ở cho người nghèo;
Căn cứ Nghị quyết số 03/2011/NQ-HĐND ngày 15 tháng 7 năm 2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa IX - kỳ họp thứ 2 về
Chương trình giảm nghèo tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2011-2015;
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Phê duyệt kèm theo Quyết định này "Chương trình giảm nghèo tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2011-2015".
Điều 2
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày kể từ ngày ký.
Điều 3
Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, thủ trưởng các cơ quan thuộc UBND tỉnh, Giám đốc Ngân hàng Chính sách Xã hội - Chi nhánh Bình Thuận, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố căn cứ Quyết định thi hành./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Lê Tiến Phương
CHƯƠNG TRÌNH
Phần I
Chương trình giảm nghèo tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2006-2010, UBND tỉnh có Quyết định số 89/2005/QĐ-UBND ngày 26/12/2005 phê duyệt
Chương trình giảm nghèo tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2006-2010, Chỉ thị số 21/CT-UBND ngày 20/3/2008 về đẩy mạnh thực hiện chương trình giảm nghèo của tỉnh Bình Thuận đến năm 2010, Quyết định số 21/2009/QĐ-UBND ngày 31/3/2009 về quy định một số chính sách đối với hộ mới thoát nghèo trên địa bàn tỉnh Bình Thuận và nhiều văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện các nội dung của chương trình giảm nghèo hàng năm. Các sở, ngành của tỉnh, chính quyền các địa phương đã tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện
Chương trình giảm nghèo ở địa phương mình bằng nhiều biện pháp thiết thực, cụ thể đến từng hộ nghèo, vùng nghèo;
Phần II
CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO TỈNH BÌNH THUẬN GIAI ĐOẠN 2011 – 2015
MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU
Mục tiêu, chỉ tiêu:
Mục tiêu chung:
Mục tiêu cụ thể:
Chương trình 135 giai đoạn II và 10 xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển.
Chương trình giảm nghèo nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ và nhân dân, nhất là người nghèo trong thực hiện
Chương trình giảm nghèo. Đến cuối năm 2015 có 4.500 cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về giảm nghèo.
CHƯƠNG TRÌNH
Chương trình là 857,400 tỷ đồng, gồm:
Chương trình; làm thay đổi nhận thức của người nghèo, quyết tâm nỗ lực vươn lên vượt nghèo.
Chương trình giảm nghèo; phát động phong trào thi đua giảm nghèo; tổ chức để mọi người dân tham gia các hoạt động giảm nghèo, bảo đảm công khai, dân chủ và minh bạch.
Chương trình giảm nghèo với thực hiện tốt chính sách giáo dục nâng cao trình độ dân trí, chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình và cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư".
Chương trình giảm nghèo các cấp cho phù hợp với giai đoạn mới;
Chương trình giảm nghèo; phối hợp với các sở, ngành liên quan và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, đoàn thể và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố xây dựng và tổ chức thực hiện
Chương trình giảm nghèo của ngành, địa phương; xác định đối tượng, địa bàn ưu tiên, nhu cầu nguồn lực và đào tạo cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo, công tác truyền thông; xây dựng chính sách về hệ thống an sinh xã hội. Xây dựng, tổng kết và nhân rộng các mô hình giảm nghèo có hiệu quả.
Chương trình giảm nghèo tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2011-2015 gắn với nhiệm vụ chính trị được giao.
Chương trình; kịp thời thông tin, phổ biến những mô hình hay, những gương điển hình của
Chương trình giảm nghèo đến năm 2015.
Chương trình giảm nghèo của tỉnh giai đoạn 2011-2015 trong phạm vi trách nhiệm của ngành mình.
Chương trình theo chỉ đạo của UBND tỉnh và hướng dẫn chuyên môn của các cơ quan sở, ngành cấp tỉnh. Phân công, phân cấp rõ trách nhiệm của từng cấp và các ban, ngành cùng cấp trong việc tổ chức thực hiện chương trình theo nguyên tắc tăng cường phân cấp cho cơ sở và đề cao tinh thần trách nhiệm. Tổ chức sơ, tổng kết định kỳ quý, 6 tháng, năm, giữa kỳ và cuối kỳ./.