THÔNG TƯ Về việc hướng dẫn khoá sổ và lập quyết toán Ngân sách Nhà nước năm 1996 Công tác khoá sổ cuối năm là lập tổng quyết toán thu, chi ngân sách Nhà nước hàng năm là một việc làm thường xuyên, hết sức quan trọng; năm 1995 có nhiều đơn vị, địa phương làm tốt công tác khoá sổ cuối năm và lập báo cáo quyết toán gửi về Bộ Tài chính bảo đảm được thời gian và chất lượng; nhưng vẫn còn một số các đơn vị, địa phương chưa chấp hành nghiêm chỉnh những quy định của Bộ Tài chính, gây khó khăn cho công tác phân tích, thuyết trình và tổng hợp báo cáo tổng quyết toán ngân sách Nhà nước trình Quốc hội. Để thực hiện Luật ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội thông qua ngày 20-3-1996, công tác khoá sổ cuối năm và lập tổng quyết toán ngân sách Nhà nước năm 1996 phải xử lý nhanh, gọn những khoản thu, chi theo đúng niên độ ngân sách, bảo đảm yêu cầu chính xác, kịp thời. Năm 1996, công tác khoá sổ cuối năm và lập tổng quyết toán ngân sách nhà nước vẫn thực hiện theo những quy định tại Thông tư 57 TC/NSNN ngày 26-11-1990, Công văn 192 TC/NSNN ngày 18-11-1995 và Thông tư 14 TC/HCVX ngày 28-2-1994 của Bộ Tài chính. Để thực hiện tốt những quy định tại các Thông tư nói trên và đáp ứng được yêu cầu tổng hợp, thuyết trình tổng quyết toán ngân sách Nhà nước năm 1996 trình Quốc hội, Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể thêm một số điểm sau đây: I- CÔNG TÁC KHOÁ SỔ THU, CHI NGÂN SÁCH CUỐI NĂM 1996: Công tác khoá sổ kế toán thu, chi ngân sách Nhà nước cuối năm được chia thành 2 giai đoạn sau: - Thời gian chuẩn bị kết thúc năm ngân sách: bắt đầu từ cuối tháng 11 đến hết tháng 12/1996, các dơn vị hành chính sự nghiệp, cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước các cấp tiến hành giải quyết các công việc cần thiết trước khi tiến hành khoá sổ kế toán, thu, chi ngân sách vào cuối ngày 31/12/1996. - Thời gian chỉnh lý quyết toán: bắt đầu từ ngày 01/01/1997 đến hết ngày 31/03/1997, cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước các cấp điều chỉnh các khoản thu, chi ngân sách đã thực hiện nhưng chứng từ còn đang đi trên đường, xử lý các sai sót trong quá trình hạch toán thu, chi ngân sách và hạch toán các khoản chi ngân sách Nhà nước của niên độ năm trước được cấp có thẩm quyền quyết định cho chi tiếp. Thời gian chỉnh lý quyết toán quy định cho các cấp ngân sách như sau: + Hết tháng 01 năm 1997 đối với ngân sách cấp quận, huyện, thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh. + Hết tháng 02 năm 1997 đối với ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. + Hết tháng 03 năm 1997 đối với ngân sách trung ương. NHỮNG CÔNG VIỆC CẦN GIẢI QUYẾT TRONG THỜI GIAN CHUẨN BỊ KẾT THÚC NĂM NGÂN SÁCH: 1. Đối với các Bộ, ngành, đơn vị dự toán: a) Các bộ, các ngành, các tổ chức kinh tế và cơ quan tài chính các cấp có biện pháp cụ thể chỉ đạo đôn đốc các đơn vị, doanh nghiệp thuộc bộ, ngành và địa phương, đối chiếu rà soát lại và làm thủ tục nộp hết vào ngân sách Nhà nước các khoản thu ngân sách Nhà nước, kiên quyết không để tình trạng chiếm dụng vốn ngân sách. b) Các đơn vị dự toán: phải thường xuyên theo dõi và nắm chắc số dư tài khoản hạn mức kinh phí và tài khoản tiền gửi để chủ động chi tiêu, đôn đốc thanh toán dứt điểm các khoản tạm ứng, cho vay, đi vay trước ngày 31/12 và đảm bảo các chứng từ thanh toán có đủ thời gian quay trở lại Kho bạc Nhà nước nơi lưu ký tài khoản. Số dự hạn mức kinh phí của các đơn vị dự toán trung ương và địa phương mở tại Kho bạc Nhà nước còn lại đến cuối ngày 31-12-1996 phải huỷ bỏ. c) Các khoản kinh phí sau đây có số dư đến cuối ngày 31/12/1996 được
xét chuyển sang năm 1997 để chi tiêu tiếp: - Các khoản kinh phí không thuộc nguồn vốn của đơn vị. - Các khoản kinh phí cấp trước cho năm 1997. - Các khoản tiền thưởng, tiền lương và những khoản có tính chất lương theo chế độ quy định phải chi của năm 1996 nhưng chưa chi. d) Số dư tài khoản hạn mức và tiền gửi của các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ đến cuối ngày 31/12/1996 Kho bạc Nhà nước tự động chuyển vào tài khoản riêng (do Kho bạc Nhà nước trung ương quy định) và được xử lý theo lệnh của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Cục Tài vụ Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ có trách nhiệm hướng dẫn các đơn vị trực thuộc thực hiện, tổng hợp số dư tài khoản tiền gửi của các đơn vị trực thuộc, có xác nhận của Kho bạc Nhà nước và tiếp tục hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định tại điểm e dưới đây gửi Bộ Tài chính để Bộ Tài chính xem
xét chuyển số dư sang năm 1997 cho đơn vị. e) Các khoản kinh phí còn dư đến cuối ngày 31/12/1996 quy định tại điểm c và d trên đây, nếu cần thiết phải chi tiếp trong năm 1997 thì đơn vị phải làm thủ tục đề nghị chuyển số dư gửi cơ quan Tài chính đồng cấp xét duyêt; hồ sơ đề nghị xét duyệt gồm: - Công văn của đơn vị gửi cơ quan Tài chính và Kho bạc Nhà nước đồng cấp về việc đề nghị chuyển số dư tài khoản tiền gửi tại thời điểm đề nghị chuyển của đơn vị trước 31/12/1996. - Bảng giải trình chi tiết số dư tài khoản tiền gửi có xác nhận của Kho bạc Nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản, kèm theo các chứng từ hoặc các hợp đồng cung cấp hàng hoá, dịch vụ chưa hoàn thành có liên quan đến số tiền xin chuyển. - Ý kiến của ban, phòng hoặc Vụ quản lý Tài chính chuyên ngành thuộc cơ quan Tài chính. - Đơn vị dự toán thuộc cấp nào quản lý thì do cơ quan Tài chính cấp đó duyệt. Đối với đơn vị dự toán trung ương quản lý, Bộ Tài chính quy định như sau: Bộ Tài chính (Vụ NSNN) duyệt số dư tài khoản tiền gửi của các đơn vị dự toán trung ương đóng trên địa bàn thành phố Hà Nội, số dư tài khoản tiền gửi của các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ; Bộ Tài chính uỷ quyền cho Sở tài chính vật giá các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương duyệt số dư tài khoản tiền gửi của các đơn vị dự toán Trung ương đóng trên địa bàn các tỉnh, thành phố khác (trừ các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ). Kể từ năm 1996, Cơ quan đại diện Bộ Tài chính tại thành phố Hồ Chí Minh không chịu trách nhiệm duyệt số dư tài khoản tiền gửi của đơn vị dự toán trung ương đóng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. g) Thời gian xét chuyển số dư cho các đơn vị dự toán các cấp bắt đầu từ ngày 25/12/1996 đến cuối giờ làm việc ngày 31/12/1996; cho các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ bắt đầu từ ngày 01/01/1997 đến cuối giờ làm việc ngày 31/01/1997. Nếu quá thời hạn trên, đơn vị nào không làm thủ tục chuyển số dư tài khoản tiền gửi, đề nghị Kho bạc Nhà nước cắt nộp ngân sách Nhà nước, chứng từ nộp tiền ghi chương 99 (A,B,C) loại 14 khoản 01 hạng 9 mục 47 (đơn vị dự toán thuộc ngân sách cấp nào thì nộp vào ngân sách cấp đó). Cơ quan Tài chính không xét thoái trả tiền đã cắt nộp ngân sách cho đơn vị do đơn vị không làm đúng thủ tục và không kịp thời gian theo quy định của Bộ Tài chính. 2. Nhiệm vụ của cơ quan Tài chính: a) Thời hạn chuyển kinh phí cuối năm quy định như sau: - Đối với ngân sách trung ương: + Trước cuối giờ làm việc ngày 15/12/1996 đối với các đơn vị dự toán trung ương và ngân sách địa phương tại các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai, Bắc Thái, Quảng Ninh và các tỉnh từ Thừa Thiên - Huế trở vào. + Trước cuối giờ làm việc ngày 18/12/1996: đối với các đơn vị dự toán trung ương và ngân sách địa phương ở các tỉnh khác (trừ thành phố Hà Nội). + Trước cuối giờ làm việc ngày 20/12/1996: Đối với các đơn vị đóng trên địa bàn Hà Nội. - Đối với ngân sách địa phương: Tuỳ tình hình thực tế của từng địa phương, Sở Tài chính bàn với Kho bạc Nhà nước tỉnh quy định thời hạn cuối cùng để phân phối hạn mức và cấp phát lệnh chi cho các đơn vị và các quận, huyện cho phù hợp để bảo đảm thời gian khoá sổ quy định chung của Bộ Tài chính. b) Kiểm tra và xử lý các công việc có liên quan đến ngân sách Nhà nước: cơ quan Tài chính chủ trì phối hợp với Kho bạc Nhà nước làm tốt các công việc sau đây: - Tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi tiêu trong những ngày cuối năm để tránh hiện tượng chi chạy kinh phí, chuyển vốn vòng vèo thiếu sự kiểm soát của cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan Tài chính. - Xử lý dứt điểm các khoản đi vay, cho vay, tạm thu, tạm giữ. - Đối chiếu số liệu với các đơn vị có liên quan để đảm bảo số thu, chi ngân sách Nhà nước phát sinh từ ngày 01/1/1996 đến hết ngày 31/12/1996 khợp đúng niên độ ngân sách và hạch toán đúng Chương, Loại, Khoản, Hạng,
Mục của mục lục ngân sách Nhà nước.
Mục 97.
Chương 99B Loại 14 Khoản 01 Hạng 2
Mục 48; hạch toán và quyết toán chi cho đối tượng sử dụng theo C.L.K.H.M tương ứng của mục lục ngân sách Nhà nước hiện hành.
Chương 99 Loại 14 Khoản 01 Hạng 5
Mục 42; hạch toán và quyết toán chi cho đối tượng sử dụng theo C.L.K.H.M tương ứng của mục lục ngân sách Nhà nước hiện hành.
Chương 99B Loại 14 Khoản 01 Hạng 2
Mục 48 như những khoản trợ cấp khác; hạch toán và quyết toán chi cho các đối tượng sử dụng theo C.L.K.H.M tương ứng của
Mục lục ngân sách Nhà nước.
Chương 99 Loại 14 Khoản 01 Hạng 2
Mục 96 không hạch toán và quyết toán
Mục 97 hoặc 99.
Mục 97).