QUYẾT ĐỊNH Về việc phê duyệt đề án phương hướng thập niên chất lượng tỉnh Vĩnh Long, giai đoạn 2006 – 2015 UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, ngày 26 tháng 11 năm 2003
Căn cứ Quyết định số 272/2003/QĐ-TTg, ngày 31/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010;
Căn cứ Quyết định số 67/2006/QĐ-TTg, ngày 21/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu giai đoạn 5 năm 2006 - 2010;
Căn cứ Nghị quyết số 35/2006/NQ-HĐND, ngày13/7/2006 của Hội đồng nhân dân tỉnh về tiếp tục thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh 6 tháng cuối năm 2006;
Xét Tờ trình số 241/TTr-SKHCN, ngày 26/8/2006 của Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ về việc xin phê duyệt Đề án “Phương hướng Thập niên Chất lượng tỉnh Vĩnh Long, giai đoạn 2006 - 2015”,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Nay phê duyệt Đề án “Phương hướng Thập niên Chất lượng tỉnh Vĩnh Long, giai đoạn 2006-2015" kèm theo Quyết định này.
Điều 2
Giám đốc các Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh có liên quan, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã và các doanh nghiệp tổ chức triển khai và thực hiện Đề án “Phương hướng Thập niên Chất lượng tỉnh Vĩnh Long, giai đoạn 2006 - 2015".
Điều 3
Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày và được đăng Công báo của tỉnh.
Điều 4
Chánh văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Giám đốc sở Khoa học và Công nghệ, thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã và các doanh nghiệp chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Lê Thanh Xuân
ĐỀ ÁN
Phương hướng thập niên chất lượng tỉnh Vĩnh Long, giai đoạn 2006 - 2015
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1751/2006/QĐ-UBND, ngày 07 tháng 9 năm 2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long)
I. SỰ CẦN THIẾT THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
1. Những kết quả và hạn chế về hoạt động chất lượng giai đoạn 1996 - 2005.
1.1. Những kết quả chủ yếu:
Tháng 8 năm 1995, “Thập niên Chất lượng Việt Nam lần thứ nhất, 1996-2005” chính thức được phát động. Kể từ đó, phong trào chất lượng phát triển rộng khắp trên các lĩnh vực, góp phần quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Thời gian qua, trên địa bàn tỉnh, hoạt động năng suất - chất lượng đã được các ngành, các cấp quan tâm thực hiện và đạt được những thành quả đáng khích lệ. Công tác tuyên truyền, đào tạo, tư vấn về năng suất - chất lượng được đẩy mạnh với trên 40 cuộc hội nghị, hội thảo khoa học, tập huấn, triển lãm…về tiêu chuẩn - chất lượng cho gần 1.000 lượt doanh nghiệp với trên 5.000 lượt người tham dự. Đến nay, có khoảng 1.500 cơ sở sản xuất với trên 3.760 sản phẩm đã đăng ký áp dụng tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa (bao gồm tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn ngành và tiêu chuẩn cơ sở); đặc biệt, đã có 09 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế, 12 lượt doanh nghiệp đã áp dụng và đạt Giải thưởng Chất lượng Việt Nam. Tỉnh đã chọn được 30 sản phẩm hàng hoá tiêu biểu được thị trường chấp nhận.
Hoạt động thanh, kiểm tra chất lượng hàng hoá, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao chất lượng hàng hoá đã được các sở, ban, ngành phối hợp thực hiện tại 26.133 cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ; phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời trên 4.800 trường hợp vi phạm, góp phần ổn định trật tự sản xuất, kinh doanh và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về chất lượng hàng hóa.
Phong trào chất lượng của tỉnh đã mang lại những kết quả quan trọng, đặc biệt giai đoạn (2001 - 2005), tổng sản phẩm (GDP) tăng bình quân hàng năm 8,60%; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực. Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, đã hình thành được vùng chuyên canh lúa, rau màu, cây ăn trái chất lượng cao; trên lĩnh vực sản xuất công nghiệp, từng bước nâng cao được chất lượng những sản phẩm hàng hoá vốn là thế mạnh của tỉnh như: chế biến lương thực, gốm sứ, sản phẩm hoá dầu, dược phẩm, vật tư y tế, phân bón,…
Phong trào "Thập niên Chất lượng Việt Nam lần thứ nhất, 1996 - 2005" bước đầu đã khẳng định vị trí quan trọng của năng suất - chất lượng, góp phần quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
1.2. Những hạn chế:
Tuy đã đạt được những kết quả khả quan nhưng so với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động năng suất - chất lượng của tỉnh còn những hạn chế và yếu kém.
Qui mô doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ và vừa: Tính đến cuối năm 2005, toàn tỉnh có 1.476 doanh nghiệp, với số vốn đăng ký ban đầu khoảng 2.195 tỷ đồng (qui mô vốn trung bình 01 doanh nghiệp khoảng 1,5 tỷ đồng), vì thế qui mô sản xuất, kinh doanh và khả năng cạnh tranh còn rất hạn chế.
Chất lượng hàng hóa, dịch vụ còn thấp, chưa thật sự ổn định so với hàng hóa, dịch vụ cùng loại trong nước và thế giới, nhiều hàng hóa chưa đăng ký thương hiệu, kiểu dáng thiếu hấp dẫn, đa số doanh nghiệp chưa làm tốt khâu nghiên cứu thị trường…nên tính cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ chưa cao.
Công nghệ lạc hậu so với khu vực (1 - 2 thế hệ) và với các nước tiên tiến (2 - 3 thế hệ). Tình trạng này đã làm giảm đáng kể khả năng cạnh tranh của sản phẩm bằng chất lượng và giá cả.
Thiếu nghiêm trọng lao động có kỹ năng sử dụng công nghệ: Số kỹ sư công nghệ và công nhân bậc cao chiếm tỷ lệ rất thấp.
Phần lớn lao động có tay nghề thấp, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn cao.
MỤC TIÊU PHƯƠNG HƯỚNG THẬP NIÊN CHẤT LƯỢNG TỈNH VĨNH LONG ĐẾN 2015.
Mục tiêu chung:
Mục tiêu cụ thể: