QUYẾT ĐỊNH CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ SỐ 371/BYT-QĐ NGÀY 12 THÁNG 3 NĂM 1996 VỀ VIỆC BAN HÀNH "QUY CHẾ ĐÁNH GIÁ TÍNH AN TOÀN VÀ HIỆU LỰC THUỐC CỔ TRUYỀN" BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ -
Căn cứ Nghị định số 68/CP ngày 11-10-1993 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Y tế;
Xét đề nghị của ông Viện trưởng Viện YHCT Việt Nam tại công văn số 2/YHCT ngày 6-3-1995; -
Theo đề nghị của ông Vụ trưởng Vụ Y học cổ truyền, Vụ trưởng Vụ Khoa học - Đào tạo, vụ Dược, QUYẾT ĐỊNH
Điều 1
Ban hành kèm theo Quyết định này bản "Quy chế đánh giá tính an toàn và hiệu lực thuốc cổ truyền".
Điều 2
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký, các quy định trước đây trái với quy định trong quyết định này đều bãi bỏ.
Điều 3
Các ông Chánh Văn phòng, Chánh thanh tra Bộ, Vụ trưởng Vụ YHCT, Vụ KHĐT, Vụ Điều trị, Vụ Dược, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc, Giám đốc Sở y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Y tế các Ngành chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
QUY CHẾ
ĐÁNH GIÁ TÍNH AN TOÀN VÀ HIỆU LỰC THUỐC CỔ TRUYỀN
(Ban hành kèm theo Quyết định số 371/BYT-QĐ ngày 12 tháng 3 năm 1996
của Bộ trưởng Bộ Y tế)
Thuốc cổ truyền được dùng lâu đời ở nước ta, trong các phòng mạch tư nhân, trong dân gian nhiều bài thuốc hay, nhiều kinh nghiệm quý đã được lưu truyền qua sách vở hoặc bằng miệng từ đời nay qua đời khác. Thực hiện đường lối kế thừa, phát huy phát triển Y học cổ truyền, từ năm 1958 đến nay, Ngành Y tế đã sưu tầm, tập hợp được nhiều bài thuốc cổ truyền. Một số thuốc cổ truyền đã được nghiên cứu một cách hệ thống và khoa học song còn nhiều bài thuốc chưa được tổng kết đánh giá bằng phương pháp khoa học do đó hiệu lực của thuốc chưa rõ.
Để đánh giá hiệu lực của thuốc, đảm bảo an toàn sức khoẻ và tính mạng cho người dùng và có cơ sở xét cấp số đăng ký cho phép sản xuất lưu hành, Bộ Y tế ban hành "Quy chế đánh giá tính an toàn và hiệu lực thuốc cổ truyền" như sau:
CHƯƠNG I
Điều 1
Các thuật ngữ dùng trong quy chế này được hiểu như sau:
1. Thuốc cổ truyền là một vị thuốc sống hoặc chín hay một chế phẩm thuốc được phối ngũ (lập phương) và bào chế theo phương pháp của y học cổ truyền từ 1 hay nhiều vị thuốc có nguồn gốc thực vật, động vật, khoáng vật có tác dụng chữa bệnh hoặc có lợi cho sức khoẻ con người.
2. Thuốc gia truyền là những môn thuốc, bài thuốc trị một chứng bệnh nhất định có hiệu quả và nổi tiếng một vùng, một địa phương được sản xuất lưu truyền lâu đời trong gia đình.
3. Cổ phương là thuốc được sử dụng đúng như sách vở cổ (cũ) đã ghi về: số vị thuốc, lượng từng vị, cách chế, liều dùng, cách dùng và chỉ định của thuốc.
4. Cổ phương gia giảm là thuốc có cấu trúc khác với cổ phương về: số vị thuốc, lượng từng vị, cách chế, cách dùng, liều dùng theo biện chứng của thầy thuốc trong đó cổ phương vẫn là cơ bản (hạch tâm). 5. Tân phương (thuốc cổ truyền mới) là thuốc có cấu trúc khác hoàn toàn với cổ phương về: số vị thuốc, lượng từng vị, dạng thuốc, cách dùng chỉ định.
6. Chất đặc trưng là một thành phần tự nhiên của thuốc cổ truyền dùng làm tiêu chuẩn để xác định đảm bảo chất lượng cho chế phẩm thuốc cổ truyền và không nhất thiết phải là chất có tác dụng sinh học hay tác dụng điều trị của thuốc.
7. Hoạt tính sinh học là hoạt tính liên quan đến sự thay đổi về chức năng cơ bản của động vật (hay tiêu bản của động vật) khi cho thử nghiệm thuốc cổ truyền trên động vật đó.
8. Tác dụng điều trị là tính tác dụng có liên quan đến việc cải thiện tình trạng sức khoẻ của người bệnh khi có sự tác động của thuốc cổ truyền.
Điều 2
Đối tượng áp dụng:
1. Những thuốc cổ truyền là bài thuốc cổ phương gia giảm, bài thuốc gia truyền, tân phương muốn được sản xuất lưu hành đều phải được tổ chức đánh giá theo quy chế này.
2. Những thuốc cổ truyền đã được Nhà nước cho phép sản xuất lưu hành không phải thực hiện đánh giá theo quy chế này.
3. Những thuốc cổ truyền, (cổ phương gia giảm, gia truyền, kinh nghiệm chưa được đánh giá theo quy chế này chỉ được phép sử dụng trong phạm vi điều trị tại cơ sở khám chữa bệnh của thầy thuốc: không được phép lưu hành sử dụng rộng rãi.
Điều 3
Thuốc cổ truyền đưa ra đánh giá phải:
Được sản xuất theo một quy trình nhất định.
Có tiêu chuẩn chất lượng đã được xét duyệt.
Thành phần thuốc được xác định rõ.
Có những tư liệu liên quan đến bài thuốc đưa đánh giá.
Điều 4
Nguyên tắc áp dụng:
1. Các bài thuốc cổ truyền mới (tân phương) đề nghị xét cấp số cho sản xuất lưu hành rộng rãi phải được đánh giá đầy đủ các bước theo quy định trong quy chế này.
2. Thuốc cổ truyền (cổ phương gia giảm, gia truyền, kinh nghiệm) đã thừa kế được điều trị thử ở các viện, bệnh viện, các phòng mạch được coi là đã đánh giá hiệu quả lâm sàng ở giai đoạn 1: Nếu muốn sản suất để ứng dụng rộng rãi nhất thiết phải tiến hành đánh giá hiệu quả lâm sàng ở giai đoạn 2 và 3 (xem phụ lục 4 kèm theo).
3. Nếu muốn phát hiện những trường hợp độc hại của thuốc cổ truyền mà các giai đoạn 1,2,3 không phát hiện được thì phải tiến hành nghiên cứu lâm sàng ở giai đoạn 4 (Xem phụ lục 4 kèm theo).
4. Nếu muốn đưa ra một chỉ định mới hoặc cách dùng mới cho một bài thuốc cổ phương hoặc một bài thuốc đã được cấp số đăng ký cho sản xuất lưu hành rộng rãi phải được đánh giá hiệu quả lâm sàng ở giai đoạn 5 (xem phụ lục 4 kèm theo).
Điều 5
Tổ chức nhóm đánh giá và lập kế hoạch đánh giá:
Tổ chức nhóm đánh giá phải bao gồm nhiều thành viên khác nhau: các nhà khoa học (lâm sàng, dược lý, dược liệu, bào chế, hoá thực vật, kiểm nghiệm...), các cơ quan phối hợp.
Kế hoạch đánh giá phải ghi cụ thể về các mặt: quy cách, chất lượng, độc tính (cấp, bán cấp, trường diễn LD50) và tác dụng dược lý, tác dụng lâm sàng của thuốc cổ truyền đưa đánh giá, thời gian các bước tiến hành, sơ kết, tổng kết, nghiệm thu.
CHƯƠNG II
Điều 6
Xây dựng đề cương đánh giá:
1. Tên của đề tài (ghi rõ ràng cụ thể).
2. Mục đích của đề tài (rõ ràng cụ thể phù hợp với tên đề tài).
3. Lý do chọn đề tài.
4. Công thức thuốc (tên Việt Nam, tên khoa học, dạng thuốc, liều dùng, công dụng, cách dùng).
5. Quy trình bào chế.
6. Tiêu chuẩn chất lượng nguyên liệu và thành phẩm thuốc đưa đánh giá.
7. Xác định tác dụng dược lý thuốc đưa đánh giá.
8. Phương pháp đánh giá (có đối chứng, không có đối chứng, chéo, ngẫu nhiên, mù kép, mù đơn).
9. Tiêu chuẩn nhận chọn bệnh nhân để đánh giá tính an toàn và hiệu quả của thuốc đưa đánh giá (dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán quốc gia hoặc quốc tế đã công nhận).
10. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả.
11. Số bệnh nhân đưa vào diện đánh giá xác định bằng xác suất thống kê.
12. Nhóm đối chứng để kiểm tra kết quả điều trị có thể là:
Nhóm dùng thuốc có hiệu lực được công nhận.
Hoặc nhóm dùng placebo (thuốc vờ).
13. Xây dựng phác đồ điều trị của nhóm đánh giá và nhóm đối chứng phải giống nhau và đảm bảo an toàn cho người bệnh.
14. Ghi chép theo dõi trên lâm sàng (hàng ngày) và cận lâm sàng (định kỳ).
Ngoài những điểm nêu trên trong đề cương còn ghi thêm các điều sau:
Nhóm nghiên cứu (người có năng lực).
Địa điểm và phương tiện tiến hành.
Kế hoạch báo cáo lên cấp trên.
Kế hoạch theo dõi bệnh nhân sau quá trình đánh giá lâm sàng.
Điều 7
Đề cương đánh giá phải được Hội đồng KHKT cấp tương đương xét duyệt thông qua (cấp Cơ sở, cấp Bộ, cấp Nhà nước).
Hội đồng xét duyệt cấp nào do Thủ trưởng cấp đó ra quyết định thành lập theo quy định hiện hành.
Hội đồng có nhiệm vụ xem xét các nội dung sau:
1- Quyền lợi của bệnh nhân.
2- Đề cương đánh giá lâm sàng có đầy đủ không, có khả thi không.
3- Bảo vệ môi trường.
Nơi nhận đánh giá thuốc cổ truyền là những nơi do Bộ Y tế chỉ định: Viện; Bệnh viện; Trung tâm nghiên cứu có đầy đủ phương tiện trang thiết bị, đội ngũ cán bộ có trình độ để tiến hành các bước đánh giá, xử trí kịp thời các tai biến xẩy ra.
Điều 8
Xác định đặc điểm chất lượng thuốc cổ truyền (bước 1):
Xác định tiêu chuẩn, quy cách, phẩm chất các dược liệu trong chế phẩm.
Xác định chất đặc trưng.
Xác định quy trình bào chế sản xuất.
(Xem phục lục 1 kèm theo).
Điều 9
Xác định tác dụng dược lý và độc tính của thuốc cổ truyền (bước 2):
1. Xác định tác dụng dược lực, dược lý của thuốc (xem phụ lục 2 kèm theo).
2. Xác định độc tính: cấp, bán cấp, trường diễn của thuốc (xem phụ lục 3 kèm theo).
3. Các phương pháp thực nghiệm (phải là phương pháp chuẩn quốc gia hoặc quốc tế) gồm:
Phương pháp thử nghiệm dược lực, dược lý cơ bản tiến hành trên mô hình động vật hoặc thực nghiệm sinh học có liên quan chặt chẽ với người bệnh.
Phương pháp thử độc tính trên động vật:
+ Độc tính toàn thân (thay đổi sinh lý, sinh hoá, huyết học, giải phẫu...)
+ Độc tính cấp diễn (độc tính xuất hiện trong vòng 24-36 giờ).
+ Độc tính trường diễn (xuất hiện trong thời gian dùng thuốc đưa đánh giá kéo dài từ 3 đến 6 tháng). Có thể thử nghiệm độc tính bán cấp với thời gian 2 tháng.
+ Độc tính tại chỗ (tính kích ứng của thuốc, sự hấp thu của cơ thể).
+ Độc tính chuyên biệt (đặc biệt) nói chung không thử nghiệm song nếu được yêu cầu thì phải thực hiện.
Điều 10
Các giai đoạn đánh giá hiệu quả lâm sàng (bước 3):
Được tiến hành sau khi đã xác minh quy cách chất lượng thuốc và xác định được độc tính, tác dụng dược lý của thuốc.
1. Giai đoạn 1: Quan sát sơ bộ hiệu lực của thuốc để làm cơ sở cho các giai đoạn đánh giá tiếp.
Có phác đồ điều trị phù hợp.
Tiến hành trên một số ít (10-30) người khoẻ mạnh (20-30 tuổi), các chức năng gan, tim, thận bình thường, không có tiền sử dị ứng với thức ăn, thuốc (cũng có thể tiến hành trên một số bệnh nhân tình nguyện).
Xác định liều dùng, đường dùng thuốc.
Quan sát ghi chép theo đề cương.
Phân tích, đánh giá.
Báo cáo kết quả.
2. Giai đoạn 2: Xác định hiệu lực và khẳng định thêm tính an toàn của thuốc đưa đánh giá.
Có phác đồ điều trị thích hợp.
Tiến hành trên một số bệnh nhân hạn chế (30-50) và chia làm 2 nhóm: nhóm thuốc đánh giá và nhóm đối chứng (cũng có thể chỉ có nhóm bệnh nhân dùng thuốc cần đánh giá). Các bệnh nhân này phải được theo dõi nội trú.
Phân nhóm: Nếu là 2 nhóm thì dùng phương pháp so sánh đối tượng bệnh nhân phải giống nhau cả về số lượng, giới tính, thời gian mắc bệnh: thuốc dùng để so sánh phải là loại thuốc đã xác định hiệu quả hoặc dùng placêbo (thuốc vờ). Nếu chỉ có một nhóm dùng thuốc đưa đánh giá thì dùng phương pháp tự đối chiếu.
Liều lượng thuốc hàng ngày và thời gian điều trị phải xác định rõ và tuân thủ đúng phác đồ.
Theo dõi ghi chép đúng, không sai, không sót các biến đổi lâm sàng; kiểm tra cận lâm sàng, tác dụng xấu hoặc tác dụng phụ của thuốc trên người nếu có.
Đánh giá tác dụng điều trị theo 4 mức:
+ Khỏi hẳn.
+ Có tiến bộ rõ.
+ Có tiến bộ.
+ Không có tiến bộ.
Xử lý số liệu bằng xác suất thống kê.
Báo cáo kết quả.
3. Giai đoạn 3: Triển khai đánh giá lâm sàng trên phạm vi rộng lớn hơn để xác định kết quả của giai đoạn 2.
Đề cương đánh giá như ở giai đoạn 2.
Số lượng bệnh nhân khoảng 100-150: phương pháp đánh giá là phương pháp mù kép.
Cách tiến hành giống như giai đoạn 2: thực hiện ở 3 trung tâm có điều kiện trang bị kỹ thuật và cán bộ có năng lực.
Theo dõi ghi chép, đánh giá tác dụng điều trị và báo cáo kết quả như giai đoạn 2.
4. Giai đoạn 4: Khi thuốc đã được sản xuất và sử dụng rộng rãi, nếu cần phải phát hiện những trường hợp độc hại mà các giai đoạn nêu trên không phát hiện được thì tiến hành tiếp giai đoạn 4. Số lượng bệnh nhân khoảng 200 bệnh nhân trở lên và được thực hiện ở nhiều trung tâm của nhiều vùng trong cả nước. Cách tiến hành như giai đoạn 2 và 3.
5. Giai đoạn 5: Khi phát hiện thấy thuốc đang dùng có tác dụng cho một chỉ định mới, phải tiến hành đánh giá hiệu quả bằng giai đoạn 5 để khẳng định chỉ định mới của thuốc. Cách tiến hành như giai đoạn 2 và 3. Số lượng bệnh nhân khoảng 100 bệnh nhân trở lên.
CHƯƠNG III
Điều 11
Trách nhiệm của người tham gia đánh giá:
Chuẩn bị đề cương và tư liệu cần thiết để trình Hội đồng xét duyệt.
Tổ chức thực hiện đề cương; nắm vững và hiểu rõ thuốc đưa đánh giá; theo dõi ghi chép, xử trí kịp thời tai biến nếu có; định kỳ báo cáo kết quả cho cơ quan quản lý; cho người yêu cầu về tài trợ.
Điều 12
Trách nhiệm của người yêu cầu và tài trợ cho việc đánh giá thuốc cổ truyền:
Đảm bảo tính trung thực (của những người tham gia đánh giá và Hội đồng xét duyệt đề cương, Hội đồng nghiệm thu).
Đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.
Đảm bảo quy cách, chất lượng thuốc đưa đánh giá.
Cung cấp các tư liệu về thuốc đưa đánh giá cho người tham gia đánh giá trước khi xây dựng đề cương đánh giá.
CHƯƠNG IV
Điều 13
Xử lý các số liệu:
Sau khi hoàn tất đề cương và bệnh án, những người đánh giá phải ký tên cùng chịu trách nhiệm.
Lưu trữ bệnh án số liệu gốc làm tài liệu tham khảo cho những bước đánh giá tiếp theo.
Tư liệu ghi trong bệnh án phải được chuyển giao chính xác và đảm bảo bí mật.
Điều 14
Phân tích thống kê:
Phải xác định trước phương pháp thống kê dùng và ghi rõ trong đề cương.
Kết quả thống kê phải được trình bày rõ ràng, để dễ sử dụng trong đánh giá kết quả lâm sàng.
Kết quả phải được công bố đầy đủ cả kết quả tốt cũng như kết quả không tốt (không được chỉ công bố kết quả tốt).
Viết báo cáo tổng kết gửi cho cơ quan quản lý, cho người yêu cầu và tài trợ, cho Hội đồng nghiệm thu đánh giá theo quyết định.
Điều 15
Đánh giá kết quả:
Hội đồng nghiệm thu do cấp có thẩm quyền chỉ định sẽ đánh giá kết quả đề tài sau khi các uỷ viên đã nhận được báo cáo tổng kết và có nhận xét.
Hội đồng sẽ đánh giá kết quả của tất cả các giai đoạn theo đề cương đã duyệt.
Hội đồng sẽ báo cáo lên cấp có thẩm quyền về kết quả đã được nghiệm thu.
CHƯƠNG V
Điều 16
Quy chế này được áp dụng cho các cơ sở nghiên cứu khoa học, các cơ sở khám chữa bệnh, sản xuất thuốc cổ truyền thuộc cơ quan y tế nhà nước và tư nhân trong cả nước.
Điều 17
Quy chế này có hiệu lực từ ngày ban hành - mọi quy định trái với quy chế này đều bãi bỏ.
Điều 18
Mọi khiếu nại về việc đánh giá tính an toàn và hiệu lực thuốc cổ truyền của các tổ chức, cá nhân gửi đến cơ quan quản lý Nhà nước về YHCT hoặc các cơ quan có thẩm quyền theo phân cấp quản lý để được nghiên cứu giải quyết theo pháp luật hiện hành.
PHỤ LỤC 1
CÁC QUY TRÌNH XÁC ĐỊNH ĐẶC ĐIỂM CHẤT LƯỢNG DƯỢC LIỆU VÀ THUỐC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
I. MỞ ĐẦU.
Thuốc cổ truyền Việt Nam đã được sử dụng hàng ngàn năm nay, bao gồm những vị thuốc, chế phẩm thuốc được phối ngũ theo ý lý cổ truyền và chế phẩm thuốc sử dụng theo kinh nghiệm dân gian lâu đời. Nước ta đã sử dụng trên hai nghìn dược liệu khác nhau, trong đó trên 80% là có nguồn gốc thực vật. Thuốc cổ truyền Việt Nam cũng như Trung dược có 3 loại:
1. Thuốc sống, thuốc chín.
2. Thuốc thang tức thuốc có nhiều vị thuốc phiến, dùng dưới dạng thuốc sắc hay thuốc rượu.
3. Thuốc cao đơn hoàn tán và những dạng thuốc hiện đại.
Dạng thuốc thang là dạng thuốc dùng phổ biến nhất. Ngày nay dạng thuốc này vẫn được coi trọng. Tuy nhiên hiệu lực của cả bài thuốc phụ thuộc vào chất lượng từng vị thuốc, từ khâu trồng trọt, thu hái, chọn lựa ban đầu, đến khâu bào chế.
Để đảm bảo tính an toàn và hiệu lực của thuốc cổ truyền, cần phải có những quy trình đánh giá tiêu chuẩn dược liệu về các mặt sau:
Tính xác thực (authenticity).
Thời điểm thu hái, bộ phận sử dụng, phương pháp bào chế.
Hoạt chất hay các chất đặc trưng đã được lựa chọn về cả hai mặt định tính và định lượng.
Khi xây dựng các phương pháp đánh giá, bên cạnh những phương pháp chính quy cần lưu ý đến cả những phương pháp đơn giản nhanh chóng nhưng vẫn đủ tin cậy (express-method) có thể dùng cho những nơi xa các cơ sở Trung ương nhưng lại gần những vùng cung cấp dược liệu.
II. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA THUỐC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
Thuốc cổ truyền Việt Nam cũng như Trung dược có nguồn gốc là thực vật, động vật, khoáng vật. Trong lâm sàng, thuốc có nguồn gốc thực vật được sử dụng nhiều nhất.
Cùng một dược liệu có thể có nhiều tên gọi khác nhau tuỳ địa phương.
Người dân khi thu hái dược liệu chưa phân biệt được các loài, thứ khác nhau, tuy cây thuốc vẫn thuộc về cùng một chi. Thời vụ, thời điểm thu hái cũng chưa được chú ý chặt chẽ.
Quá trình bào chế thuốc sống, thuốc chín của nhiều vị thuốc còn có những nét khác nhau...
Qua bào chế, tính vị, tính độc của một số vị thuốc có thể thay đổi và hiệu lực của thuốc chín thường là được nâng cao so với thuốc sống.
Vẫn đang dùng phương pháp đánh giá theo cảm quan là chính, chưa xây dựng được phương pháp đánh giá thống nhất, khách quan và khoa học chất lượng của thuốc.
Việc tìm hiểu mối liên hệ giữa tác dụng sinh học, tác dụng điều trị của thuốc với các hoạt chất hay nhóm hoạt chất chỉ mới được đặt ra trong những năm gần đây.
Phần lớn các vị thuốc và bài thuốc vẫn còn được sử dụng theo kinh nghiệm.
Phần lớn các nguyên liệu có thể được đóng gói trong các bao bì thông dụng. Đối với các loại dễ bị sâu bọ đục khoét và các nguyên liệu có chứa tinh dầu dễ bay hơi thì phải đựng trong các thùng gỗ kín, khô, hay trong các túi nhựa. Đối với các nguyên liệu dễ hút ẩm và biến chất phải đựng trong các bao bì thích hợp có thêm chất hút ẩm và nút thật kỹ.