THÔNG TƯ CỦA BỘ TÀI CHÍNH Hướng dẫn chế độ quản lý nguồn vốn vay của quỹ hợp tác kinh tế hải ngoại Nhật bản (OECF) cho các dự án xây dựng cơ bản
Căn cứ Nghị định số 117/CP ngày 20-10-1994 của Chính phủ ban hành Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng, Nghị định số 58/CP ngày 30-8-1993 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài và Nghị định số 20-CP ngày 15-3-1994 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức
Căn cứ vào các Hiệp định tín dụng đã kỹ giữa Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Quỹ hợp tác kinh tế hải ngoại Nhật Bản (OECF);
Sau khi thống nhất với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Ngân hàng nước Việt Nam; Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý nguồn vốn vay của OECF cho các dự án xây dựng cơ bản như sau: I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 1. Nguồn vốn ODA là khoản vay nợ nước ngoài của Chính phủ, vì vậy toàn bộ tiền vay phải được cân đối vào ngân sách Nhà nước. Bộ Tài chính có trách nhiệm cân đối nguồn vốn vay vào ngân sách Nhà nước và để trả nợ cho nước ngoài khi đến hạn trả nợ (bao gồm cả gốc và lãi). 2. Các dự án đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng nguồn vốn này được phân thành 2 loại: Các dự án thuộc đối tượng được cấp phát vốn theo chế độ cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước hiện hành bao gồm các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội và các dự án khác không có khả năng thu hồi vốn theo quy định tại Nghị định số 177-CP ngày 20-10-1994 của Chính phủ. Các dự án không thuộc đối tượng trên, Chủ đầu tư phải vay lại nguồn vốn này. 3. Bộ Tài chính trực tiếp quản lý, cấp phát vốn cho các dự án thuộc đối tượng cấp phát vốn ngân sách và cho vay đối với các dự án thuộc đối tượng tín dụng ưu đãi. 4. Cơ quan chủ quản đầu tư và chủ đầu tư có trách nhiệm cấp và trình duyệt kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn này và nguồn vốn đối ứng trong nước cần thiết hàng năm theo chế độ quy định. 5. Các Chủ đầu tư có trách nhiệm sử dụng vốn đúng mục đích và phù hợp với các điều kiện đã cam kết trong Hiệp định tín dụng. Đối với các dự án thuộc đối tượng phải vay lại, Chủ đầu tư có trách nhiệm trả nợ (cả gốc và lãi vay) đúng quy định. II. NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ 1. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được Bộ Tài chính uỷ quyền thực hiện nghiệp vụ thanh toán đối ngoại và quản lý khoản vay đối với OECF và được hưởng phí dịch vụ 0,07%/năm trên số dư nợ OECF. 2. Bộ Tài chính (Tổng cục Đầu tư phát triển) thực hiện việc cấp phát thanh toán vốn cho các dự án thuộc đối tượng ngân sách cấp phát và cho vay đối với các dự án thuộc đối tượng phải vay lại. Đối với các dự án phải vay lại, Tổng cục Đầu tư phát triển được hưởng phí phục vụ 0,20%/năm trên số dư nợ vay. 3. Ngay sau khi rút vốn vay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam gửi Bộ Tài chính (Vụ Tài chính đối ngoại và Tổng cục Đầu tư phát triển) bản kê rút vốn kèm thông báo trả tiền của Ngân hàng Nhật Bản. Bộ Tài chính làm thủ tục ghi thu ngân sách Nhà nước và ghi chi cấp phát hoặc cho vay vốn đầu tư. Tỷ giá hối đoái giữa đồng Yên với đồng Việt Nam để hoạch toán ngân sách là tỷ giá bán ra do Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam công bố tại thời điểm thanh toán qua ngân sách Nhà nước. 4. Kế hoạch đầu xây dựng cơ bản hàng năm của dự án phải thể hiện đầy đủ các nguồn vốn và tiến độ rút vốn bao gồm: a) Vốn vay của OECF, trong đó: Phân chi trả bằng tiền Yên.