QUYẾT ĐỊNH Về công tác tiêu chuẩn hoá – đo lường-kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá của tỉnh Bến Tre UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
Căn cứ vào Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp ngày 27 tháng 10 năm 1960
Căn cứ Nghị quyết số 76-CP ngày 25/3/1977 của Hội đồng Chính phủ về vấn đề hướng dẫn thi hành và xây dựng pháp luật thống nhất trong cả nước. Trong đó cho phép áp dụng trong cả nước các văn bản pháp luật hiện hành về công tác tiêu chuẩn hoá-đo lường-kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá;
Xét yêu cầu chỉ đạo thống nhất việc tổ chức thực hiện 3 mặt công tác: Tiêu chuẩn hoá-đo lường-kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá của tỉnh Bến Tre;
Theo đề nghị của ông Trưởng Ban khoa học và kỹ thuật tỉnh Bến Tre,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Nay ban hành kèm theo Quyết định bản quy định tạm thời 3 mặt công tác: Tiêu chuẩn hoá- đo lường-kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá áp dụng cho tỉnh Bến Tre.
Điều 2.
Trong khi chờ đợi nghiên cứu, xây dựng và ban hành bản quy định chính thức và 3 mặt công tác: Tiêu chuẩn hoá-đo lường-kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá, nội dung của bản quy định tạm thời này là căn cứ để tất cả các cơ quan, cơ sở sản xuất và kinh doanh của tỉnh tổ chức thực hiện các mặt công tác này từ nay đến khi có quy định chính thức.
Điều 3.
Các ông Chánh văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Trương Ban khoa học và kỹ thuật tỉnh cùng Thủ trưởng của tất cả các cơ quan ban ngành Tỉnh uỷ, cơ sở sản xuất và kinh doanh của tỉnh chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Điều 4
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký./.
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
PHÓ CHỦ TỊCH
(đã ký)
Lê Hữu Nghiã
ỦY BAN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẾN TRE Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
QUY ĐỊNH TẠM THỜI
Về 3 mặt công tác tiêu chuẩn hoá-đo lường-kiểm tra chất lượng
sản phẩm và hàng hoá của tỉnh Bến Tre
Chương I
Điều 1
Công tác tiêu chuẩn hoá
Thông qua việc xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn, quy trình quy phạm kỹ thuật để đặt cơ sở và pháp lý về khoa học – kỹ thuật cho việc tổ chức phân công và quản lý sản xuất nhằm không ngừng nâng cao năng suất lao động đảm bảo chất lượng sản phẩm và hàng hoá sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu, hạ giá thành sản phẩm, đảm bảo an toàn kỹ thuật và an toàn lao động trong sản xuất.
Điều 2
Công tác đo lường
Tiến đến trang bị đủ các thiết bị, dụng cụ đo lường đảm bảo tính thống nhất, tính đúng đắn và tính chính xác theo đúng quy định của Nhà nước để phục vụ tốt cho sản xuất, lưu thông phân phối, nghiên cứu khoa học.
Điều 3
Công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá
Đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh các tiêu chuẩn và quy định về chất lượng của Nhà nước. Đánh giá đúng đắn, khách quan tình hìnhc hất lượng đạt được trong sản xuất và tình trạnh chất lượng hàng hoá trong lưu thông phân phối. Phân tích có hệ thống các sai sót và những nguyên nhân gây ra sai sót về chất lượng. Đề xuất và áp dụng các biện pháp nhằm đảm bảo không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và hàng hoá tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân.
Chương II
Chương I tất cả các cơ quan từ Ty, ban ngành huyện, thị xã đến các cơ sở sản xuất và lưu thông phân phối cần có kế hoạch tiến hành từng bước những công việc sau đây:
Điều 4.
Tổ chức phổ biến, hướng dẫn thực hiện các chế độ, thể lệ của Nhà nước, quy phạm cấp Nhà nước, cấp ngành, nghiên cứu xây dựng các chế độ, thể lệ của tỉnh về 3 mặt công tác: tiêu chuẩn hoá - đo lường – kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá để ban hành và áp dụng.
Điều 5.
Tổ chức phổ biến và hướng dẫn áp dụng các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm cấp Nhà nước, cấp ngành, nghiên cứu xây dựng, ban hành và áp dụng các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm, cấp tỉnh đối với các sản phẩm công, nông nghiệp, lương thực, thực phẩm, hải sản,… và các sản phẩm khác thuộc diện thống nhất quản lý của tỉnh.
Điều 6.
Tổ chức đăng ký, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các tiêu chuẩn, các quy định về chất lượng, sản phẩm đối với các cơ sở sản xuất và lưu thông phân phối thuộc diện quản lý của tỉnh. Áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm khuyến khích bảo đảm và nâng cao chất lượng sản phẩm và hàng hoá ngăn chặc không cho sản xuất và lưu thông những sản phẩm và hàng hoá không đạt tiêu chuẩn hoặc giả mạc.
Điều 7.
Tổ chức thực hiện các quy định của Nhà nước và của các cơ quan có thẩm quyền về việc nghiên cứu, thiết kế, chuẩn bị đưa vào sản xuất các sản phẩm mới. Thành lập Hội đồng xét duyệt sản phẩm, để xem xét quyết định cho phép, hay không cho phép đưa vào sản xuất hoặc quyết định đình chỉ sản xuất những sản phẩm không đáp ứng được yêu cầu sử dụng, không phù hợp với lợi ích chung của nền kinh tế.
Điều 8.
Tổ chức sản xuất, sửa chữa và mua sắm trang bị các thiết bị dụng cụ đo lường (kể cả dụng cụ kiểm tra) cho các cơ sở sản xuất, quản lý và nghiên cứu khoa học trong tỉnh.
Điều 9.
Tổ chức chặt chẽ việc kiểm tra và kiểm định các chuẩn, các thiết bị, dụng cụ đo lường đang sử dụng trong các ngành kinh tế, các thiết bị dụng cụ đo lường mới sản xuất ra hoặc mới nhập vào tỉnh theo sự phân công cấp của Cục tiêu chuẩn – đo lường – chất lượng và yêu cầu quản lý của tỉnh.
Điều 10.
Tổ chức xử lý kịp thời các vụ tranh chấp về đo lường về chất lượng sản phẩm và hàng hoá thuộc phạm vi quản lý của tỉnh.
Điều 11.
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ và kỹ thuật chuyên môn cho cán bộ, nhân viên làm công tác tiêu chuẩn hoá – đo lường – kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá của các cơ quan và cơ sở thuộc tỉnh quản lý.
Điều 12.
Khẩn trương xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật (bao gồm sưu tầm tài liệu kỹ thuật và xây dựng các phòng thí nghiệm) phục vụ cho công tác tiêu chuẩn hoá – đo lường – kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá.
Điều 13.
Tổ chức tốt công tác tuyên truyền, thông tin tư liệu về tiêu chuẩn hoá – đo lường – kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá. Nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân để phục vụ cho 3 mặt công tác này của tỉnh.
Chương III
Điều 14.
Các cơ sở quốc doanh và công tư hợp doanh thuộc diện quản lý của tỉnh phải tiến hành công tác theo điều lệ và công tác tiêu chuẩn hoá ở xí nghiệp, công nghiệp quốc doanh do Hội đồng Chính phủ ban hành theo Quyết định số 290-CP ngày 30/12/1974.
Điều 15.
Từ nay đến hết năm 1981 các cơ sở sản xuất quốc doanh và công tư hợp doanh phải tập trung thực hiện các việc sau đây:
Nghiên cứu áp dụng tiêu chuẩn, các quy trình, quy phạm của Nhà nước và của ngành đã ban hành đối với sản phẩm hay công việc do mình trực tiếp sản xuất và quản lý. Trường hợp có lý do chính đáng chưa áp dụng được phải báo cáo bằng văn bản cho cơ quan quản lý trực tiếp của ngành mình và cho ban khoa học kỹ thuật tỉnh đề xét, đề nghị với cơ quan có thẩm quyền quyết định chăm chước.
Tất cả các sản phẩm chủ yếu chưa có tiêu chuẩn của Nhà nước của ngành và địa phương, Giám đốc xí nghiệp phải xây dựng được và ban hành tiêu chuẩn cấp xí nghiệp. Tiêu chuẩn xí nghiệp phải quy định rõ quy cách và chất lượng sản phẩm đưa vào sự chỉ đạo chung của tỉnh và khả năng sản xuất thực tế của xí nghiệp để làm cơ sở cho việc ký hợp động tiêu thụ sản phẩm nhất là để có cơ sở tăng cường công tác quản lý trong nội bộ xí nghiệp. Các tiêu chuẩn xí nghiệp phải thông qua Ban khoa học kỹ thuật tỉnh trước khi ban hành.
Điều 16.
Các cơ quản chủ quản phải phối hợp với Ban khoa học kỹ thuật tỉnh tổ chức nghiên cứu, xây dựng trình UBND tỉnh xét, ban hành tiêu chuẩn cấp tỉnh cho những đối tượng sau đây:
Sản phẩm hay công việc chưa có tiêu chuẩn cấp Nhà nước ngành quy định hoặc tuy đã có nhưng xét thấy cần quy định cụ thể hơn cho phù hợp với tình hình.
Sản phẩm do nhiều cơ sở trong tỉnh sản xuất.
Sản phẩm có vị trí đặc biệt quan trọng “gồm loại sản phẩm nào”
Điều 17.
Tất cả các cơ quan, cơ sở trong thị xã có trách nhiệm phải tham gia xây dựng tiêu chuẩn của tỉnh theo kế hoạch. Do Ban khoa học kỹ thuật phối hợp với Uỷ ban kế hoạch tổ chức xây dựng trình UBND tỉnh duyệt.
Điều 18.
Các vấn đề khác về tiêu chuẩn hoá của tỉnh, giao cho Ban khoa học kỹ thuật tỉnh hướng dẫn thực hiện theo quy định của Chính phủ và theo hướng dẫn của Uỷ ban khoa học kỹ thuật Nhà nước.
B. CÔNG TÁC ĐO LƯỜNG
Điều 19.
Các cơ sở sản xuất quốc doanh, công tư hợp doanh thuộc diện quản lý của tỉnh phải tiến hành công tác đo lường theo điều lệ về quản lý đo lường trong xí nghiệp quốc doanh do Hội đồng Chính phủ ban hành theo Nghị định số 217-CP ngày 25/9/1974.
Điều 20.
Các cơ sở sản xuất quốc doanh, công tư hợp doanh và các cơ sở kinh doanh trong lĩnh vực lưu thông phân phối phải tập trung thực hiện các công việc sau đây:
Có kế hoạch trang bị đủ thiết bị, dụng cụ đo lường dùng cho sản xuất, lưu thông phân phối và nghiên cứu khoa học, kỹ thuật (kể cả thiết bị, dụng cụ kiểm tra) bảo đảm tính thống nhất, đúng đắn và độ chính xác của các thiết bị, dụng cụ đó.
Mỗi cơ sở phải có biện pháp chủ động trong việc sửa chữa các thiết bị, dụng cụ đo lường cần thiết của tỉnh mình. Nhanh chóng chấm dứt tình trạng sản xuất, trao đổi sản phẩm và hàng hoá bằng những dụng cụ đo đã hư hỏng hoặc không còn chính xác.
Tất cả các chuẩn, các thiết bị dụng cụ đo lường đang sử dụng phải thực hiện kiểm tra và kiểm định thường xuyên theo quy định của Nhà nước.
Nghiêm cấm đưa vào sử dụng những thiết bị dụng cụ đo mới sản xuất hoặc mới nhập vào tỉnh mà chưa kiểm định.
Điều 21.
Ty Công nghiệp, Uỷ ban kế hoạch tỉnh và Ban khoa học kỹ thuật tỉnh có trách nhiệm nghiên cứu trình Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định việc xây dựng và phát triển các cơ sở sản xuất, thiết bị dụng cụ đo lường nhằm đáp ứng yêu cầu trang bị đủ các thiết bị dụng cụ đo lường cho sản xuất và lưu thông phân phối trong tỉnh.
Điều 22.
Ban khoa học kỹ thuật chịu trách nhiệm tập hợp yêu cầu của các cơ quan, cơ sở sản xuất, lưu thông phân phối trong tỉnh để phối hợp với cục tiêu chuẩn – đo lường, chất lượng hàng hoá (thuộc Uỷ ban khoa học kỹ thuật Nhà nước) lập danh sách thiết bị, dụng cụ đo lường để xin nhập khẩu theo kế hoạch hàng năm và kế hoạch dài hạn. Chỉ xin nhập bổ sung những thiết bị dụng cụ tốt cần thiết mà tỉnh không tự giải quyết được.
Điều 23.
Dựa vào quy định của Nhà nước và yêu cầu quản lý của tỉnh, Ban khoa học kỹ thuật có trách nhiệm lập danh sách đề nghị UBND tỉnh quy định các loại thiết bị dụng cụ đo lường buộc phải kiểm tra định kỳ và chỉ định cơ quan chịu trách nhiệm tiến hành kiểm định. Ban khoa học kỹ thuật tỉnh có trách nhiệm quy định cụ thể về kiểm định cấp giấy chứng nhận và dấu kiểm định.
Điều 24.
Giao cho Ban khoa học kỹ thuật tỉnh các quyền hạn về quản lý đo lường:
Tiến hành kiểm tra, tình trạng thiết bị dụng cụ đo lường đang sử dụng trong sản xuất, lưu thông phân phối (bao gồm của Nhà nước và tư nhân) và nghiên cứu khoa học cũng như các thiết bị dụng cụ mới sản xuất hoặc mới nhập về.
Ra lệnh đình chỉ sử dụng hoặc niêm giữ không cho sử dụng các thiết bị dụng cụ đo lường không hợp pháp hoặc không đạt yêu cầu về kỹ thuật đo lường.
Đề nghị các biện pháp xử lý những vụ vi phạm về đo lường (kể cả hình thức truy tố trước toà án) với các cơ quan có thẩm quyền.
Đưa ra kết luận có giá trị pháp lý cao nhất về đo lường trong các vụ tranh chấp thuộc quyền xử lý của tỉnh.
Công nhận các tổ chức đo lường ở cơ sở và uỷ quyền kiểm định cho các tổ chức đo lường cơ sở.
Theo lệ phí kiểm định theo quy định của Nhà nước và của các cơ quan có thẩm quyền.
Điều 25.
Các vấn đề khác thuộc về cônmg tác quản lý đo lường trong tỉnh giao cho Ban khoa học kỹ thuật tỉnh hướng dẫn thực hiện theo quy định của Chính phủ và theo hướng dẫn của Uỷ ban khoa học kỹ thuật Nhà nước.
C. CÔNG TÁC KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM VÀ HÀNG HOÁ
Điều 26.
Các cơ sở sản xuất quốc doanh và công tư hợp doanh thuộc diện quản lý của tỉnh phải tiến hành công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá theo điều lệ kiểm tra chất lượng sản phẩm ở xí nghiệp công nghiệp quốc doanh do Hội đồng Chính phủ ban hành theo Quyết định số 26-CP ngày 21/01/1974.
Điều 27.
Tất cả các đối tượng sản xuất (nguyên liệu, vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm) được gia công chế biến trong xí nghiệp phải kiểm tra xác định về chất lượng theo yêu cầu quy định trước khi chuyển giao sang công đoạn khác hoặc trước khi xuất xưởng.
Các thành phẩm xuất xưởng giao cho khách hàng phải kèm giấy chứng nhận chất lượng do Trưởng bộ phận kiểm tra hoặc do Giám đốc xí nghiệp ký.
Giám đốc xí nghiệp phải gửi báo cáo định kỳ về tình hình chất lượng theo quy định của Nhà nước cho cơ quan chủ quản sản xuất, Ban KHKT tỉnh,…
Điều 28.
Các hàng hoá lưu thông phân phối cũng phải được kiểm tra, xem xét tình trạng chất lượng trước khi phân phối hay bán ra cho người tiêu thụ. Nghiêm cấm đưa ra thị trường những hàng hoá giảm sút, chất lượng quá mức quy định mà chưa có quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền.
Điều 29.
Giao cho ban KHKT tỉnh các quyền hạn sau đây trong công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá:
Tổ chức việc kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm và hàng hoá thuộc diện thống nhất quản lý của tỉnh.
Cử cán bộ đến những nơi cần thiết ở các cơ sở sản xuất và lưu thông phân phối của tỉnh để kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá.
Đưa ra kết luận có giá trị pháp lý cao nhất về chất lượng, sản phẩm và hàng hoá trong các vụ tranh chấp quyền xử lý của tỉnh.
Yêu cầu các cơ sở sản xuất, kinh doanh và các cơ quan có liên hệ của tỉnh cung cấp mẫu sản phẩm, hàng hoá, phương tiện và các tài liệu cần thiết cho việc kiểm tra chất lượng.
Thông báo cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh và các cơ quan khác có liên quan biết tình hình vi phạm các quy định về chất lượng và kiến nghị các biện pháp khắc phục.
Kiến nghị với UBND tỉnh, Cục tiêu chuẩn – đo lường và các cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý sau đây:
+ Đình chỉ xuất xưởng hoặc phân phối những sản phẩm, hàng hoá không đạt yêu cầu chất lượng đã quy định.
+ Không công nhận hoàn thành kế hoạch toàn diện nếu không đạt yêu cầu về chất lượng.
+ Giám sát bán sản phẩm hay hàng hoá với những sản phẩm hàng hoá không đạt yêu cầu chất lượng nhưng cho phép sử dụng.
+ Thu lệ phí kiểm tra theo quy định của Nhà nước.
Điều 30.
Các vấn đề khác thuộc về công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá trong tỉnh giao cho ban KHKT hướng dẫn, thực hiện theo quy định của Chính phủ và theo hướng dẫn của Uỷ ban khoa học kỹ thuật Nhà nước.
Chương IV
Điều 31.
Phòng tiêu chuẩn – đo lường – kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá thuộc Ban KHKT tỉnh có trách nhiệm giúp Ban KHKT chỉ đạo quản lý thống nhất 3 mặt công tác: tiêu chuẩn hoá – đo lường – kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá của tỉnh.
Trưởng Ban KHKT quy định nhiệm vụ cụ thể của phòng này.
Điều 32.
Tại các cơ quan quản lý sản xuất và kinh doanh cấp tỉnh (Ty Công nghiệp, Ty Nông nghiệp, Ty Hải sản, Ty Thương nghiệp, Ty Lương thực, Ty Giao thông vận tải, Ty Xây dựng,…) nhất thiết phải có bộ phận chuyên trách giúp cấp lãnh đạo hướng dẫn các cơ sở trực thuộc thống nhất thực hiện ba mặt công tác tiêu chuẩn hoá – đo lường- kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá do tỉnh giao cho.
Điều 33.
Tại các xí nghiệp sản xuất quốc doanh và công tư hợp doanh phải có tổ chức lo về ba mặt công tác tiêu chuẩn hoá – đo lường- kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá như sau:
Về tiêu chuẩn hoá phải có 1 bộ phận hoặc ít nhất 1 cán bộ chuyên trách đặt trực thuộc Phó Giám đốc kỹ thuật hoặc đặt chung trong phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm để lo về công tác này.
Về đo lường phải có 1 bộ phận hoặc 1 cán bộ chuyên trách đặt trực thuộc Phó Giám đốc kỹ thuật hoặc đặt chung trong phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm để lo về công tác này.
Về kiểm tra chất lượng sản phẩm tất cả các xí nghiệp phải có phòng hoặc tổ kiểm tra chất lượng đặt trực thuộc giám đốc.
Điều 34.
Tại các cơ sở kinh doanh (công ty, cửa hàng, kho tàng,…) tuỳ tình hình mà giao nhiệm vụ cho những bộ phận và cán bộ thực hiện các phần việc có liên quan về tiêu chuẩn hoá – đo lường – kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá.
Điều 35.
Trên cơ sở những quy định chung của Nhà nước và UBND tỉnh, Thủ trưởng các cơ quan chủ quản sản xuất và kinh doanh của tỉnh và các cơ sở sản xuất kinh doanh quy định nhiệm vụ cụ thể cho các tổ chức làm công tác tiêu chuẩn hoá – đo lường – kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá của đơn vị mình.
Chương V
Điều 36.
Tất cả các cơ quan, cơ sở sản xuất và kinh doanh của tỉnh có trách nhiệm phải thực hiện đầy đủ những điều đã quy định về ba mặt công tác tiêu chuẩn hoá – đo lường – kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá theo sự phân công phân cấp và theo kế hoạch do UBND tỉnh giao cho.
Thủ trưởng các cơ quan và cơ sở sản xuất, kinh doanh của tỉnh căn cứ vào những điều lệ đã nêu trong bản quy định này mà quy định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm cho các đơn vị và cán bộ trực tiếp thực hiện công tác tiêu chuẩn hoá – đo lường – kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá phải thường xuyên đôn đốc kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện các mặt công tác này gắn liền với sự đánh giá hoàn thành kế hoạch sản xuất, kinh doanh của đơn vị và cá nhân.
Điều 37.
Ban khoa học kỹ thuật tỉnh là cơ quan có chức năng giúp UBND tỉnh hướng dẫn, chỉ đạo toàn bộ công tác tiêu chuẩn hoá – đo lường – kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá của tỉnh. Ban phải thường xuyên báo cáo cho UBND tỉnh biết tình hình thực hiện ba mặt công tác của các cơ quan và các cơ sở sản xuất kinh doanh do tỉnh quản lý.
Điều 38.
Ban KHKT tỉnh có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban kế hoạch tỉnh hướng dẫn các cơ quan, cơ sở sản xuất kinh doanh và lưu thông phân phối trong tỉnh lập kế hoạch tổng hợp và cân đối về ba mặt công tác tiêu chuẩn hoá – đo lường – kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá trình UBND tỉnh xét duyệt đồng thời với các mặt kế hoạch khác.
Uỷ ban vật giá tỉnh có trách nhiệm phối hợp với Ban KHKT trong việc chỉ đạo công tác giá cả có liên quan đến tiêu chuẩn và chất lượng sản phẩm hàng hoá.
Ty Tài chính và ngân hàng có trách nhiệm giúp đỡ Ban KHKT trong việc hướng dẫn thực hiện các biện pháp thưởng phạt về đo lường và về chất lượng sản phẩm và hàng hoá.
Các cơ quan chủ quản sản xuất và kinh doanh của tỉnh có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Ban KHKT trong việc chỉ đạo thực hiện ba mặt công tác tiêu chuẩn hoá – đo lường – kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá tại các cơ sở sản xuất và kinh doanh do mình trực tiếp quản lý.
Điều 39.
Các Điều quy định trong văn bản này có thể được bổ sung, sửa đổi trong quá trình thực hiện do Ban KHKT tỉnh đề nghị UBND tỉnh quyết định.
Điều 40.
Quy định này có hiệu lực kể từ ngày ký./.