NGHỊ QUYẾT Về việc bổ sung một số chủ trương, biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện thắng lợi Nghị quyết về kinh tế - xã hội năm 1994 của HĐND tỉnh HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
Căn cứ
Điều 120 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố ngày 18/4/1992;
Căn cứ
Điều 21 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân đã được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước công bố ngày 11/7/1989;
Sau khi nghe báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và những công việc cần tập trung chỉ đạo trong 6 tháng cuối năm 1994;
Sau khi nghe thuyết trình của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh và ý kiến Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,
QUYẾT NGHỊ:
I. Tán thành báo cáo của UBND tỉnh về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 1994 và những công việc cần tập trung chỉ đạo trong 6 tháng cuối năm 1994.
Hội đồng nhân dân tỉnh nhận thấy, trong 6 tháng đầu năm 1994, thực hiện Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh, các ngành, các cấp, các đoàn thể và đồng bào trong tỉnh đã có nhiều cố gắng phấn đấu giữ vững sự ổn định về an ninh chính trị, tiếp tục phát triển kinh tế: cơ cấu nông nghiệp đang chuyển đổi đúng hướng, kinh tế vườn, kinh tế biển tiếp tục phát triển khá; công nghiệp – TTCN được củng cố và hoạt động khá ở một số xí nghiệp; cơ sở vật chất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục được tăng cường; hoạt động lưu thông bước đầu hạn chế hạn chế tình trạng kém hiệu quả, hoạt động kinh tế đối ngoại được củng cố, hoạt động ngân hàng đã tác động tích cực và thiết thực đến sản xuất, thu ngân sách đạt kế hoạch và đảm bảo được các khoản chi theo kế hoạch, giá cả thị trường không biến động lớn. Các hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội… được đầu tư phát triển, kết thúc tốt năm học 1993-1994, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được ổn định, có một bộ phận được nâng lên; công tác tuyển quân đợt I đạt cả số và chất lượng.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, tình hình kinh tế - xã hội ở tỉnh ta còn những tồn tại cần được khắc phục: nguy cơ tụt hậu về kinh tế còn lớn. Mặc dù được sắp xếp lại ổn định, một số doanh nghiệp Nhà nước còn mất cân đối về vốn, chậm đổi mới công nghệ, làm ăn chưa hiệu quả, trình độ lao động kỹ thuật còn hạn chế so với nhu cầu phát triển; cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khân; nông sản thực phẩm chưa chế biến và thiếu thị trường tiêu thụ; công tác thanh toán công nợ và xử lý thu nợ tín dụng ngoài quốc doanh chuyển biến chậm; thuế còn thất thu nhiều trên lĩnh vực ngoài quốc doanh; tình trạng bao chiếm sang bán đất đai, phá rừng nuôi tôm ở 3 huyện vùng biển chưa được giải quyết tốt; việc quản lý ngân sách xã còn lỏng lẻo cần quản lý chặt chẽ hơn; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo còn chậm; tình trạng phạm pháp hình sự, tai nạn giao thông và tệ nạn xã hội có chiều hướng phát triển và diễn biến phức tạp một số cán bộ ở một số ngành, địa phương còn tình trạng yếu kém về năng lực quản lý, chưa theo kịp với yêu cầu đổi mới, tổ chức, kỷ luật còn lỏng lẻo ảnh hưởng đến hiệu quả công tác và lòng tin của nhân dân. Tình trạng tuỳ tiện trong chấp hành pháp luật, kỷ cương vẫn chưa được khắc phục.
Đây là những vấn đề cần được quan tâm giải quyết có kết quả tạo sự chuyển biến tốt hơn trong 6 tháng cuối năm 1994.
Để thúc đẩy phát triển mạnh kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm, đảm bảo thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội năm 1994. Hội đồng nhân dân tỉnh lưu ý UBND tỉnh trong chỉ đạo điều hành cần quan tâm hơn một số nội dung chủ yếu sau đây:
1. Về sản xuất nông nghiệp:
Đến cuối năm phấn đấu giải quyết địa giới hành chính và lập bản đồ địa chính làm cơ sở quản lý lãnh thổ xã, huyện, tỉnh. Tập trung sức chăm sóc vụ hè thu và mùa sớm, gieo cấy vụ mùa thật tốt, nhân rộng mô hình chuyển đổi cơ cấu mùa vụ ở Ba Tri, phấn đấu hoàn thành kế hoạch sản lượng 360.000 tấn/năm bằng các biện pháp chỉ đạo tích cực như: vận động nhân dân làm tốt công tác thuỷ lợi nội đồng, đảm bảo điều kiện giống mới, phân bón, thuốc trừ sâu… Tiếp tục triển khai nhanh rộng và có hiệu quả chương trình khuyến nông (kể cả cho phát triển cây ăn trái, kinh tế giồng và thuỷ sản).
Cần sớm hoàn thành và thông qua các đề án tổng quan nông nghiệp, tổng quan thuỷ sản, phát triển kinh tế biển phù hợp với tình hình mới làm cơ sở cho việc chỉ đạo định hướng cho ngân hàng và vận động dân bỏ vốn đầu tư phát triển kinh tế vườn, kinh tế biển. Tỉnh cần tăng cường quản lý đầu tư cho các cơ sở dịch vụ kỹ thuật phục vụ sản xuất nhất là giống tôm và giống cây ăn trái, có biện pháp hữu hiệu ngăn chận việc sản xuất và lưu thông cây, con giống kém chất lượng.
Tập trung dồn sức, khắc phục khó khăn đẩy mạnh công tác đo đạc và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất nhất là ở vùng biển, kết hợp với giải quyết các tồn tại đẩy mạnh tốc độ thực hiện dự án tổng quan lâm nghiệp trồng rừng phòng hộ ven biển, các dự án nuôi tôm và nuôi thuỷ sản khác (cua, nghêu, sò).
Có kế hoạch củng cố trại heo giống, mạng lưới thú y.
Tổ chức tốt mạng lưới nhân giống tốt trong dân và khuyến khích các thành phần kinh tế sản xuất, chế biến thức ăn gia súc để phát triển đàn heo trong tỉnh.
Hoàn thành bước I điều tra nông thôn, nông nghiệp.
2. Về sản xuất công nghiệp – TTCN:
Tiếp tục sắp xếp, củng cố các doanh nghiệp Nhà nước để nâng cao vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Để từng bước thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần chỉ đạo các ngành có đề án, phương án đổi mới công nghệ ở xí nghiệp, ngành mình để tiến tới xây dựng đề án đổi mới công nghệ, thiết bị một số ngành then chốt trong tỉnh, Trước mắt, tập trung đổi mới công nghệ và thiết bị chế biến thuỷ sản và dừa, xây dựng các dự án kêu gọi đầu tư nước ngoài và thu hút nguồn vốn tín dụng trung, dài hạn Trung ương để phục vụ cho yêu cầu trên.
Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: cần có biện pháp cụ thể tăng cường quản lý và tạo điều kiện để các doanh nghiệp này đầu tư sản xuất, đổi mới công nghệ và hoạt động theo định hướng phát triển của tỉnh, đảm bảo các yêu cầu về chất lượng sản phẩm, vệ sinh công nghiệp, vệ sinh môi trường, làm đầy đủ nghĩa vụ thuế. Kiên quyết xử lý thích đáng các trường hợp kinh doanh sai chức năng, trốn thuế, lậu thuế, sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng gây thiệt hại cho người tiêu dùng và ảnh hướng đến nền kinh tế của tỉnh.
Tiếp tục chỉ đạo đầu tư tập trung cho các công trình xây dựng cơ bản (cầu, đường, thuỷ lợi…) chương trình điện hoá nông thôn đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra, trong đó cần lưu ý tăng cường chỉ đạo tiến độ xây dựng trường học, giao thông nông thôn cải tiến nâng cao hiệu quả phục vụ của Bến phà Rạch Miễu, bảo đảm chạy đúng công suất máy, kiến thiết thị chính (thoát nước, vệ sinh công cộng) hạn chế ô nhiễm môi trường của thị xã, thị trấn.
Để phục vụ cho phát triển lâu dài cần tổ chức nghiên cứu xây dựng đề án phát triển giao thông thuỷ tỉnh Bến Tre đến năm 2000 và 2010 để có tập trung đầu tư và kêu gọi đầu tư.
Để thực hiện tiết kiệm, hạn chế lãng phí, tăng thu ngân sách, cần tiến hành khảo sát, có kế hoạch sử dụng cơ sở vật chất như nhà kho, trạm, trại, trường, nhà văn hoá, khu thương nghiệp của các sở, ban ngành, huyện, thị xây dựng trong thời bao cấp, hiện nay đang không sử dụng đến; xử lý các nông trường dừa không hiệu quả theo hướng chuyển quyền sử dụng đất cho dân, thu hồi vốn góp phần trả nợ vay trồng dừa; xem xét kiến nghị Trung ương giao về tỉnh quản lý khu vực trung tâm thực nghiệm dừa Đồng Gò hoạt động không hiệu quả trong nhiều năm.
3. Về thương mại - du lịch:
Kiên quyết sắp xếp tổ chức, tìm nguyên nhân và có phương án khắc phục tình trạng kinh doanh kém hiệu quả của một số Cty lớn của tỉnh (dừa, XNK…).
Cần nghiên cứu và có biện pháp phối hợp chặt chẽ các ngành chức năng và địa phương tập trung quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhất là các hộ đăng ký theo Nghị định 66 chống kinh doanh trái phép, trốn thuế, lậu thuế. Quan tâm mở rộng màng lưới thương nghiệp dịch vụ đến tận cơ sở xã phường.
Về xuất nhập khẩu: tập trung đầu tư sản xuất và khai thác các mặt hàng xuất khẩu: dừa, tôm, cua, nghêu…phấn đấu đạt chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu 20 triệu USD.
Có kế hoạch cụ thể và tích cực triển khai đề án du lịch đã được Hội đồng nhân dân thông qua.
4. Về tài chính ngân hàng:
+ Về tài chính:
Cần thực hiện tốt và đồng bộ các biện pháp để thu đúng, thu đủ các nguồn thu theo kế hoạch, chống thất thu nhất là thuế buôn chuyến, thương mại dịch vụ ngoài quốc doanh, thuế sát sinh, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế đất ở, nhà ở cố gắng thu đạt chỉ tiêu để có tích luỹ bổ sung cho việc đầu tư xây dựng cơ bản các công trình phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Cần quản lý chặt chẽ các khoản chi, thực hiện tiết kiệm trong chi hành chánh và xây dựng cơ bản theo chỉ thị của thủ tướng.
Tăng cường thanh tra, kiểm tra ngân sách xã khắc phục tình trạng quản lý lỏng lẻo, thu chi tuỳ tiện. Kiên quyết xử lý các tình trạng tham ô, chiếm dụng ngân sách xã.
+ Về ngân hàng:
Có biện pháp thiết thực vận động thu hút vốn nhàn rỗi trong dân để có nguồn tích cực đầu tư cho sản xuất, hoặc thu hút vào ngân hàng để điều tiết vốn cho sản xuất.
Cần kiến nghị Trung ương tăng nguồn vốn tín dụng trung, dài hạn phục vụ nhu cầu vay của nhân dân phát triển kinh tế vườn, kinh tế biển, tăng cường hơn nữa nguồn vốn vay phát triển nuôi và khai thác thuỷ sản, cải tiến thời gian trả vốn và lãi cho vay cải tạo vườn tạp phù hợp hơn đối với thực tiễn sản xuất của người dân.
Uỷ ban nhân dân tỉnh cần củng cố ngay Ban thanh toán công nợ và xử lý nợ tín dụng ngoài quốc doanh và có biện pháp kiên quyết tạo sự chuyển biến rõ rệt trong công tác thanh toán công nợ và xử lý nợ tín dụng ngoài quốc doanh. Vì đây không những là vấn đề kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị - xã hội.
6. Về văn hoá – xã hội:
+ Về giáo dục – đào tạo:
Cần có kế hoạch vận động ngay trẻ độ 6 tuổi đăng ký năm học 1994-1995, song song với công tác phổ cập giáo dục tiểu học – xoá mù chữ trong dịp hè, kiên quyết không để phát sinh số mù chữ ở bậc tiểu học.
Tuyển sinh vào lớp 6: 80% số đỗ tiểu học đẩy mạnh việc đa dạng hoá trường lớp nhất là ở thị xã, thị trấn, tạo điều kiện tốt cho số học sinh tốt nghiệp tiểu học được vào học tiếp cho hết bậc phổ thông trung học cơ sở (cấp II). Rút kinh nghiệm việc nâng chất hệ B và dân lập để nhân rộng ra.
Để đảm bảo cho những yêu cầu trên, Uỷ ban nhân dân tỉnh cần kiến nghị với Ban TCCB của Chính phủ bổ sung biên chế của giáo dục theo đúng quy định của Bộ Giáo dục – Đào tạo, nhất là số giáo viên đứng lớp. Kiến nghị với Chính phủ có chính sách thích đáng hơn cho số giáo viên ở vùng sâu, ven biển, nhất là số giáo viên từ các địa phương khác điều đến; kiểm tra đôn đốc tiến độ xây dựng trường học và kịp thời xử lý việc sử dụng vốn XDCB trường sở, không để vốn phải chờ công trình, đẩy mạnh hơn nữa phong trào xã hội hoá giáo dục, có biện pháp bổ sung vốn đầu tư xây dựng trường sở bậc tiểu học ở các huyện ven biển.
+ Về y tế:
Sơ kết công tác phòng chống dịch trong 6 tháng đầu năm 1994, tìm ra những nhân tố tích cực để phát huy, những khuyết điểm để sớm chấn chỉnh; thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia nhất là vấn đề tiêm chủng mở rộng, phải đưa các chương trình này trở thành nếp thường xuyên. Tăng cường hiệu quả quản lý và nâng cao chất lượng phục vụ của hoạt động bảo hiểm y tế.
+ Về dân số - kế hoạch hoá gia đình:
Song song với việc truyền thông đang mở rộng, cần quan tâm việc duy trì phong trào ở cơ sở với việc xây dựng tốt mô hình quản lý: chú ý đẩy mạnh việc vận động triệt sản với các đối tượng bằng những biện pháp thích hợp đúng yêu cầu.
+ Về bảo vệ và chăm sóc trẻ em:
Tiếp tục triển khai chương trình hành động vì trẻ em đến cơ sở, tuyên truyền phổ biến Luật Bảo vệ chăm sóc trẻ em; đẩy mạnh công tác xã hội hoá, xây dựng nhiều mô hình của quỹ bảo trợ trẻ em; đẩy mạnh hơn nữa việc triển khai chương trình phòng chống trẻ em suy dinh dưỡng và chương trình chăm sóc trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
+ Về văn hoá thông tin - thể thao:
Kiến nghị với Ban Tổ chức Chính phủ giải quyết định suất cho cán bộ hoạt động VHTT-TT ở cơ sở. Trước mắt UBND, Sở Tài chánh tính toán nguồn để giải quyết bồi dưỡng cho cán bộ hoạt động VHTT-TT; tạo điều kiện để đẩy mạnh hơn nữa hoạt động văn hoá thông tin và phong trào thể dục thể thao ở cơ sở.
+ Về lao động thương binh – xã hội:
Tiếp tục điều tra và giải quyết những trường hợp sai nhất là sót trong đối tượng được hưởng chính sách. Chú ý cả người có công nhưng nhiều năm chưa giải quyết.
Sớm phân bổ chỉ tiêu vốn vay giải quyết việc làm năm 1994, khẩn trương hướng dẫn các ngành, các đoàn thể, địa phương tiến hành xây dựng các dự án nhỏ để tỉnh kịp thông qua trình Trung ương cấp vốn.
Trong khi chờ thông qua đề án xoá đói giảm nghèo, trước mắt UBND tỉnh cần có chương trình hành động cụ thể triển khai các hoạt động thiết thực góp phần xoá đói giảm nghèo cho những hộ quá khó khăn trong cuộc sống.
Tích cực vận động các nguồn viện trợ nhân đạo đẩy mạnh hoạt động các trường dạy nghề và các trường trẻ em vào đời sớm.
7. Về phòng, chống các tệ nạn xã hội:
Cần khẩn trương triển khai chương trình hành động về công tác phòng chống tệ nạn xã hội của Tỉnh uỷ, Nghị định 53/CP.
Uỷ ban nhân dân tỉnh củng cố Ban chỉ đạo và chỉ đạo các ngành, các cấp có liên quan, các địa phương xây dựng kế hoạch cụ thể phòng chống các tệ nạn xã hội, đặc biệt là nạn mãi dâm, bia ôm, ma túy, cờ bạc, rượu chè say sưa bê tha, lưu hành văn hoá phẩm đồi truỵ, phản độnt tiến tới ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn trên. Khẩn trương hoàn thành trại cai nghiện ma túy tỉnh. Xây dựng trường nuôi dạy văn hoá, đạo đức và dạy nghề cho số trẻ em hư hỏng đang gây ảnh hướng nhiều đến an ninh, trật tự an toàn xã hội.
Trước mắt, tiến hành ngay đợt truy quét các tệ nạn xã hội từ tỉnh đến cơ sở, nghiêm trị các đối tượng vi phạm (nhất là công nhân viên chức Nhà nước và các lực lượng vũ trang), kịp thời rút kinh nghiệm bổ sung cho các bước tiếp theo nhằm lập lại trật tự kỷ cương xã hội, giữ gìn thuần phong mỹ tục, bản sắc văn hoá dân tộc.
Song song đó, cần có sự kết hợp chặt chẽ với Mặt trận, các đoàn thể mở ngay đợt tuyên truyền giáo dục sâu rộng trong các ngành, các cấp và mọi tầng lớp nhân dân hiểu một cách sâu sắc về hậu quả của các loại tệ nạn xã hội, của thảm họa AIDS, làm cho mọi người nhất là giới trẻ tự giác lánh xa, đồng thời đẩy mạnh việc tổ chức các hoạt động văn hoá lành mạnh, tổ chức dạy nghề, triển khai nhanh và có hiệu quả các đề án giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo…để về lâu dài giải quyết tận gốc vấn đề tệ nạn xã hội.
8. Về thi hành pháp luật, thực hành tiết kiệm, đấu tranh chống lãng phí, chống tham nhũng buôn lậu, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân:
Tiếp tục làm tốt tuyên truyền giáo dục ý thức cho cán bộ - nhân dân về thi hành pháp luật, thực hành tiết kiệm, đấu tranh chống lãng phí, chống tham nhũng buôn lậu.
Tăng cường công tác quy hạoch, đào tạo, khẩn trương kiện toàn bộ máy Nhà nước, cải tiến thủ tục hành chính, rà soát và sửa chữa kịp thời các quy định quản lý không còn phù hợp, khắc phục sơ hở trong quản lý Nhà nước, thường xuyên kiểm tra các cơ quan Nhà nước về chấp hành pháp luật và chế độ chính sách, chế độ quản lý về kinh tế tài chính, kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm. Củng cố các cơ quan bảo vệ luật pháp đi vào hoạt động đúng theo quy chế.
Củng cố các Ban chỉ đạo các cấp về phòng chống tham nhũng, buôn lậu và các tiêu cực khác. Các cơ quan bảo vệ luật pháp cần phối hợp với các ngành liên quan tiếp tục thanh tra, kiểm tra phát hiện kiên quyết đưa ra xử lý các vi phạm về tham nhũng, buôn lậu và các tiêu cực xã hội khác bất kỳ ở cấp nào, đồng thời giáo dục nhân dân tích cực tham gia đấu tranh ngăn chặn.
UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan bảo vệ luật pháp và UBND cấp huyện, thị xã cần có biện pháp tích cực và có sự phối hợp đồng bộ thống nhất để tiếp tục giải quyết dứt điểm cơ bản số tồn đọng về khiếu nại tố cáo quá hạn luật định của công dân và nhanh chóng cải tiến và nâng cao hiệu quả thiết thực của việc tiếp dân. Phấn đấu đến cuối năm 1994 không để tình trạng đơn thư tồn đọng quá hạn luật định.
9. Về an ninh quốc phòng:
Củng cố lực lượng dân quân tự vệ lực lượng dự bị động viên và các tổ nhân dân tự quản, phát huy hơn nữa vai trò giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại cơ sở.
Đề cao ý thức cảnh giác cách mạng và nâng cao chất lượng hoạt động của lực lượng vũ trang, kịp thời phát hiện và đẩy lùi các âm mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch.
Làm tốt công tác tuyển quân đợt II/94 và các Chỉ thị 33, 53, 19 của Tỉnh uỷ.
Thí điểm việc gây quỹ quốc phòng an ninh.
II. HĐND tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết này.
Các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh có trách nhiệm giúp Hội đồng nhân dân tỉnh kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.
Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp có trách nhiệm gương mẫu thực hiện Nghị quyết của HĐND, đồng thời động viên cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ và mọi tầng lớp nhân dân thực hiện tốt nghĩa vụ và quyền lợi của mình góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh tế - xã hội năm 1994 của tỉnh.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh khoá IV, kỳ họp thứ 19 thông qua ngày 16 tháng 7 năm 1994./.