NGHỊ QUYẾT Về nhiệm vụ kinh tế - xã hội 5 năm 2016 -2020 HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG KHÓA VIII KỲ HỌP THỨ 12 ( Từ ngày 08 đến 10/12/ 20 15 )
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Sau khi xem xét Báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh về đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2010 - 2015 và Tờ trình số 515/TTr-UBND ngày 10 tháng 11 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020; Báo cáo thẩm tra của các Ban và ý kiến đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, QUYẾT NGHỊ:
Điều 1
Hội đồng nhân dân tỉnh cơ bản tán thành với Báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh về đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2010 - 2015 và nhất trí thông qua Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 với các nội dung chủ yếu như sau:
1. Về tình hình kinh tế xã hội 5 năm 2010 - 2015:
Nhìn chung, 5 năm qua nền kinh tế tỉnh An Giang tuy đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn; thiên tai, dịch bệnh diễn biến bất thường; nhu cầu cho an sinh phúc lợi xã hội và đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng cao, nguồn lực còn hạn hẹp, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển. Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo, điều hành của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh, sự nỗ lực của các ngành, các cấp, doanh nghiệp và nhân dân, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn duy trì tăng trưởng ổn định và tăng dần qua từng năm, cụ thể: có 13/25 chỉ tiêu đạt và vượt so Nghị quyết, còn 12 chỉ tiêu chưa đạt Nghị quyết, mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế không đạt Nghị quyết đề ra nhưng xét về giá trị tuyệt đối thì giai đoạn 2011-2015 đã tăng thêm được 8.640 tỷ đồng (giai đoạn 2006-2010 chỉ tăng được 6.473 tỷ đồng), GDP bình quân đầu người đến năm 2015 đạt 39,274 triệu đồng (tăng 17,336 triệu đồng so năm 2010, trong khi đó giai đoạn 2006-2010 chỉ tăng được 13,134 triệu đồng so năm 2005); cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch đáng kể, theo hướng tích cực, nhất là đối với khu vực dịch vụ (chuyển dịch được 6,93%, tăng từ 53,35% vào năm 2010 lên 60,28 % vào năm 2015). Khu vực nông nghiệp chuyển dịch mạnh nhất giảm 8,43% so năm 2010 (từ 35,53% năm 2010 xuống còn 27,11% năm 2015), riêng khu vực công nghiệp - xây dựng chỉ chuyển dịch tăng được 0,39% so năm 2010. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, không để xảy ra điểm nóng trong dịp tết, lễ hội; cải cách hành chính được các ngành, các cấp tham gia tích cực và thường xuyên; triển khai thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội.
Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số khó khăn, hạn chế như: Tăng trưởng kinh tế còn thấp so với chỉ tiêu của Nghị quyết đề ra. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nội ngành vẫn chưa đúng định hướng, sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẽ, phân tán, sức cạnh tranh mặt hàng nông nghiệp còn thấp; Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiếu đồng bộ, nhất là hạ tầng du lịch. Hiệu quả đầu tư phát triển các khu, cụm công nghiệp còn thấp. Tốc độ tăng thu ngân sách bình quân hàng năm đạt thấp so với mục tiêu đề ra. Huy động vốn đầu tư các thành phần kinh tế khó khăn hơn, môi trường đầu tư và các chính sách chưa đồng bộ…, thu hút nguồn vốn ODA, FDI không nhiều. Các ngành nghề dịch vụ chưa phát triển tương xứng về tiềm năng và lợi thế. Hệ thống trường ngoài công lập phát triển chậm, tỷ lệ học sinh trung học so độ tuổi còn thấp, công tác phổ cập THCS thiếu vững chắc; công tác phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THCS và THPT còn một số bất cập; xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục chưa phát triển mạnh. Mô hình tổ chức hệ thống y tế, cơ chế quản lý và cơ chế tài chính chậm đổi mới; chất lượng các dịch vụ y tế còn thấp; công tác phòng chống dịch bệnh dựa vào cộng đồng chưa phát huy được hiệu quả. Công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông thôn hiệu quả chưa cao, chất lượng đào tạo còn hạn chế. Tỷ lệ nghèo có giảm nhưng chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo cao và hộ nghèo mới phát sinh tăng; bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở một số địa phương còn mang tính phong trào, thiếu đầu tư chiều sâu. Một số cơ chế, chính sách về an sinh xã hội còn bất cập. Công tác phòng, chống mại dâm, ma túy và phòng chống buôn bán người tuy có những chuyển biến tích cực, nhưng tình hình vẫn còn có mặt diễn biến phức tạp.
2. Các chỉ tiêu chủ yếu của Kế hoạch 5 năm 2016 – 2020 :
Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân 5 năm 2016 - 2020 là 7%.
GRDP bình quân đầu người (giá HH) đến năm 2020 đạt 48,628 triệu (khoảng 2.266 USD/người).
Giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân đến năm 2020 đạt 192 triệu đồng/ha.
Kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 6.050 triệu USD.
Tổng thu ngân sách nhà nước từ kinh tế địa bàn 5 năm đạt 31.985 tỷ đồng.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm đạt 148 ngàn tỷ đồng.
Quy mô dân số đến năm 2020 khoảng 2.175 ngàn người.
Tỷ lệ học sinh đi học trong độ tuổi đến năm 2020: mẫu giáo đạt 70%, Tiểu học đạt 100%; Trung học cơ sở đạt 80%; Trung học phổ thông và tương đương đạt 50%.
Trường đạt chuẩn quốc gia đến năm 2020 đạt 50%.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo so với tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân đến năm 2020 đạt 65%.
Mức giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn 2016-2020) bình quân 1,5%/năm.
Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi thể cân nặng: 10%.
Tỷ suất chết của người mẹ trong thời gian thai sản trên 100.000 trẻ đẻ sống < 30 người.
Số giường bệnh trên 10.000 dân đến năm 2020 đạt 25,43 giường.
Số bác sĩ trên 10.000 dân đến năm 2020 đạt 8 bác sĩ.
Tỷ lệ bảo hiểm y tế toàn dân đến năm 2020 đạt 80%.
Có 60 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới.
Tỷ lệ dân số nông thôn cung cấp nước sạch, nước hợp vệ sinh: 90%.
Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường: 100%.
Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn ở đô thị: 75%.
3. Một số nhiệm vụ, giải pháp cần tập trung thực hiện:
Tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X.
Thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; Phấn đấu đến năm 2020 phần lớn các sản phẩm nông nghiệp đều qua sơ chế, chế biến trước khi ra thị trường; thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ theo Quyết định 62/2013/QĐ-TTg ngày 25 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn, để thúc đẩy nhanh quá trình liên kết và mở rộng diện tích sản xuất theo mô hình cánh đồng lớn; chủ động xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm thông qua dự án gói hỗ trợ cho chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ, hỗ trợ xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm nông nghiệp, trong đó tập trung ưu tiên cho 05 sản phẩm tái cơ cấu nông nghiệp; Tập trung đầu tư hoàn chỉnh hệ thống giao thông thủy lợi nội đồng, xem đây là khâu đột phá phục vụ cơ giới hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 27 tháng 6 năm 2012 của Tỉnh ủy về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh An Giang giai đoạn 2012-2020 và tầm nhìn đến năm 2030, trong đó tập trung ứng dụng và nhân rộng các mô hình tiên tiến vào sản xuất; tranh thủ Trung ương bổ sung An Giang trở thành một trong những trung tâm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo Quyết định 575/QĐ-TTg ngày 04 tháng 5 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể khu và vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Tiếp tục thực hiện
Chương trình xây dựng Nông thôn mới, phấn đấu đến cuối năm 2020, toàn tỉnh có 60 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới. Thường xuyên tổ chức kiểm tra, giữ vững tiêu chí đồng thời nâng chất các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới.
Chương trình phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020 tập trung 3 lĩnh vực: phát triển đô thị; hạ tầng giao thông trọng điểm; công trình thủy lợi ứng phó biến đổi khí hậu và thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp.
Điều 2
Giao Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai, chỉ đạo, điều hành và kiểm tra việc thực hiện của các ngành, các cấp. Tăng cường trách nhiệm, phối hợp hành động giữa các ngành và địa phương để đảm bảo thực hiện thắng lợi nghị quyết.
Thường trực, các Ban Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu và đại biểu Hội đồng nhân dân có kế hoạch phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức thành viên, tăng cường tuyên truyền, giám sát, đôn đốc các ngành, các cấp và vận động nhân dân tích cực thực hiện thắng lợi nghị quyết.
Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII, kỳ họp thứ 12 kêu gọi đồng bào, cán bộ, chiến sĩ tiếp tục phát huy thành tích đạt được, triệt để tiết kiệm trong tiêu dùng, sản xuất, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, tận dụng thời cơ thuận lợi, khai thác tiềm năng thế mạnh của tỉnh nhà, đoàn kết thống nhất, chung sức, chung lòng thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu 5 năm 2016 - 2020 theo Nghị quyết đã đề ra.
Điều 3
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh khoá VIII kỳ họp thứ 12 thông qua ngày 10 tháng 12 năm 2015 và có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày thông qua./.