NGHỊ QUYẾT Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2000 HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân được Quốc hội thông qua ngày 21/6/1994.
Sau khi xem xét các báo cáo của Ủy ban nhân dân và các ngành, báo cáo thẩm định của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh, ý kiến đóng góp của cử tri, của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và ý kiến thảo luận của đại biểu; QUYẾT NGHỊ: I. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH NĂM 1999 Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành báo cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh về đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội và dự toán ngân sách của tỉnh năm 1999, cũng như báo cáo của các ngành tại kỳ họp. Năm 1999, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn đạt kết quả khá. Hầu hết các mục tiêu, chỉ tiêu về kinh tế - xã hội đều đạt và vượt mức kế hoạch đề ra. Tổng sản phẩm trong nước, giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp, thủy sản, kim ngạch xuất khẩu, trồng rừng, thu ngân sách đều tăng so với kế hoạch năm. Đầu tư nước ngoài có chuyển biến, môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng hơn. Một số doanh nghiệp mới được thành lập. Ngành công nghiệp và du lịch có thêm những năng lực lới. Mặc dù tổng vốn đầu tư trên địa bàn giảm, nhưng vốn đầu tư xây dựng cơ bản bằng các nguồn vốn ngân sách tỉnh vẫn tăng so với cùng kỳ. Ngân sách địa phương đã đáp ứng được hầu hết các nhiệm vụ chi theo dự toán và các nhu cầu phát sinh. Các chỉ tiêu về dân số, y tế đều vượt mức kế hoạch đề ra. Mức hưởng thụ văn hóa, hộ gia đình và ấp đạt tiêu chuẩn văn hóa tăng hơn so với năm trước. Các chính sách xã hội được thực hiện tốt. Đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêu xây dựng nhà tình nghĩa và chăm sóc tốt các gia đình chính sách và Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Cuộc bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp của tỉnh đạt kết quả. An ninh quốc phòng được giữ vững và hoàn thành kế hoạch. Đó là kết quả của sự nỗ lực phấn đấu của nhân dân, của các cấp các ngành trong tỉnh. Tuy nhiên, trên các lĩnh vực vẫn còn những tồn đọng và yếu kém. Một số ngành, lĩnh vực kinh tế hiệu quả hoạt động còn thấp. Các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh thiếu phấn khởi trong làm ăn. vốn tín dụng tồn đọng còn lớn do thiếu dự án khả thi, có hiệu quả. Các doanh nghiệp Nhà nước của tỉnh hiệu quả kinh doanh thấp, khả năng mất vốn cao. Việc sắp xếp và đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước chậm. Mối quan hệ tương hỗ giữa kinh tế Trung ương và địa phương trên địa bàn còn hạn chế. Một số nông sản khó tiêu thụ, giá bán thiếu ổn định, thị trường chưa được mở rộng. Nông dân, ngư dân chưa thực sự an tâm đầu tư vào sản xuất. Một bộ phận nhân dân đời sống còn khó khăn. Đề án phổ cập trung học cơ sở tiến hành chậm. Các tệ nạn ma túy và một số tội phạm nghiêm trọng có xu hướng gia tăng. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở một số lĩnh vực chuyển biến chậm. Đó là những vấn đề bức xúc mà tỉnh phải nỗ lực giải quyết trong thời gian tới. II. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH TRONG NĂM 2000 Hội đồng Nhân dân tỉnh nhất trí một số chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước của tỉnh năm 2000. Đồng thời nhấn mạnh một số vấn đề về chủ trương, nhiệm vụ như sau: A. Một số chỉ tiêu chủ yếu: 1. Chỉ tiêu về kinh tế: - Tốc độ tăng trưởng GDP kể cả dầu và khí thô tăng từ 10 % trở lên, trừ dầu và khí thô tăng từ 6% trở lèn. - Giá trị sản xuất công nghiệp kể cả dầu khí và thô tăng từ 9,7% trở lên, trừ dầu và khí tăng từ 11 % trở lên. - Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng từ 4,5 % trở lên. - Giá trị sản xuất thủy hải sản tăng từ 8% trở lên. - Giá trị các ngành dịch vụ tăng khoảng 5,3% trở lên, riêng dịch vụ du lịch tăng từ 6% trở lên. - Kim ngạch xuất khẩu kể cả dầu thô giảm 4,5%; kim ngạch xuất khẩu trừ dầu thô tăng từ 11,2% trở lên so với năm 1999. - Tổng thu ngân sách trên địa bàn tăng từ 16,3% trở lên, các nguồn thu (không kể dầu thô và thuế xuất nhập khầu) giảm 20,7%. Tổng chi ngân sách địa phương giảm 29,24% so với ước thực hiện năm 1999. - Giữ nguyên các khoản chi (gồm 14 mục chi) theo chủ trương của địa phương đã được Hội dồng nhân dân Tỉnh khóa II thông qua trong năm 1999 với tổng số 31 tỷ đồng. - Tổng số vốn đầu tư trên địa bàn tăng khoảng 12,9%, riêng các nguồn vốn của địa phương tăng khoảng 19,9%. 2. Chỉ tiêu về xã hội: - Giảm tỷ lệ sinh 0,5 %o. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên khoảng 1,63%. - Tạo đủ việc làm cho 25.000 lao động, trong đó có việc làm mới cho 5.000 lao động. - Không để hộ đói phát sinh, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn khoảng 8%. - Tăng số cháu vào nhà trẻ 2%, mẫu giáo 5%, học sinh phổ thông 6%. - Đẩy mạng thực hiện đề án phổ cập trung học cơ sở, hoàn thành phổ cập trung học cơ sở ở thành phố Vũng Tàu, thị xã Bà Rịa và một số thị trấn. - Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống dưới 30%. - Mức hưởng thụ văn hóa 16 lần/người/năm, tỷ lệ hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa 70%, tỷ lệ thấp văn hóa đạt 45% - Tỷ lệ dân được dùng nước sạch 75%; trong đó vùng nông thôn 70%. Tỷ lệ dân vùng nông thôn được dùng điện 85%. - Xây dựng và sửa chữa 100 nhà tình nghĩa, xây mới 500 nhà tình thương bằng phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm. - Đưa thêm 16 bác sĩ về xã để 100% số xã trong tỉnh đều có bác sĩ. B. Một số chủ trương và nhiệm vụ: 1. Về kinh tế: - Tiếp tục thực hiện đầu tư có trọng điểm theo địa bàn và lĩnh vực. Năm 2000, tập trung đầu tư cho huyện Long Đất, thị xã Bà Rịa và một số xã, phường còn khó khăn; ưu tiên đầu tư cho ngành du lịch và hải sản, giải quyết những yêu cầu bức xúc của ngành y tế và giáo dục, quan tâm đầu tư thích đáng cho ngành văn hóa - thông tin, thể dục - thể thao. Tăng cường các hoạt động kiểm tra giám sát để đảm bảo chất lượng các hạng mục công trình. - Về bố trí nguồn vốn đầu tư qua ngân sách: Ưu tiên thanh toán cho các công trình đã hoàn thành nhưng còn nợ trong năm 1999 và các công trình chuyển tiếp, số vốn còn lại dành một phần để cấp hoặc cho vay với lãi suất thấp hoặc không lãi để đầu tư các công trình kinh tế có hiệu quả và các công trình thủy lợi có thu phí. - Tiếp tục khuyến khích đầu tư và nâng cao hiệu quả đánh bắt hải sản xa bờ, chú trọng việc bảo quản và chế biến sản phẩm. Xây dựng mới một nhà máy chế biến hải sản cao cấp. Quy hoạch vùng nuôi và thí điểm nuôi hải sản xuất khẩu. Giao cho Sở Thủy sản xây dựng dự án phát triển nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh. Điều chỉnh quy hoạch nông lâm nghiệp trên cơ sở lợi thế so sánh và yếu tố thị trường. Xác định lại các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn trái, chú trọng các nông sản có giá trị xuất khẩu. Nâng cao hơn nữa hoạt động khuyến nông. Nghiên cứu xây dựng mô hình liên kết giữa các doanh nghiệp có cơ sở chế biến và khả năng tiêu thụ sản phẩm với nông, ngư dân để giải quyết khâu tiêu thụ. Dành một phần vốn cho doanh nghiệp vay không tính lãi để hỗ trợ việc tiêu thụ hàng hóa. Quan hệ với Bộ Thủy sản để được hỗ trợ trong việc xây dựng các phương án nuôi trồng, chế biến để nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu. Triển khai thực hiện Nghị quyết của Chính phủ về phát triển kinh tế trang trại gia đình và một số vùng đất trống, đồi trọc để có thể làm trang trại lớn. Thực hiện rào rừng ở khu bảo tồn Bình Châu - Phước Bửu để bảo vệ có hiệu quả khu vực này. Đẩy mạnh kế hoạch trồng rừng, tăng cường công tác bảo vệ rừng. Tổ chức sơ kết 3 năm thực hiện Luật hợp tác xã để rút kinh nghiệm và tìm mô hình phát triển hợp tác xã một cách phù hợp. - Triển khai thực hiện chương trình phát triển du lịch 1999 - 2000 mà Tỉnh ủy đã thông qua. Đầu tư kết cấu hạ tầng dự án 500 mét bờ biển bãi tắm Thùy Vân và thực hiện phương thức gọi vốn đầu tư khai thác. Góp vốn vào dự án cáp treo núi Nhỏ - núi Lớn, đồng thời tích cực tìm đối tác để sớm hình thành các khu du lịch dịch vụ trên núi nhằm khai thác có hiệu quả công trình cáp treo, tăng thêm doanh thu cho du lịch của tỉnh. Kết hợp phát triển du lịch với việc trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử, di tích văn hóa như Bạch Dinh, Thích ca Phật Đài, địa đạo Long Phước, núi Minh Đạm. - Triển khai thực hiện Luật doanh nghiệp, đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp. Kiên quyết xử lý dứt điểm các doanh nghiệp làm ăn yếu kém, thua lỗ kéo dài. Phấn đấu hoàn thành cổ phần hóa 8 doanh nghiệp Nhà nước, triển khai thực hiện Nghị định của Chính phủ về giao, bán, khoán và cho thuê các doanh nghiệp loại nhỏ. Quan tâm hỗ trợ tài chính đối với các doanh nghiệp của tỉnh hiện đang làm ăn có lãi hoặc có khả năng vươn lên. Tạo điều kiện thuận lợi để kêu gọi, thu hút đầu tư từ nước ngoài và các thành phần kinh tế khác để đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh trên địa bàn Tỉnh. - Tiếp tục thực hiện việc phụ thu tiền nước để phát triển hệ thống thoát nước đô thị và phát triển cấp nước cho các vùng nông thôn như Tờ trình số 244/TT-UBT ngày 20/01/2000 của Ủy ban Nhân dân tỉnh, nhưng có xem xét miễn phụ thu đối với một số vùng và hộ gia đình có đời sống khó khăn. Tiếp tục thực hiện chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm đường giao thông nông thôn theo tỷ lệ đã được công bố và thực hiện trong năm 1999. - Thực hiện tốt giám sát tài chính đối với doanh nghiệp. Quan tâm bổ sung cho doanh nghiệp từ nguồn vốn doanh nghiệp nộp ngân sách trong một số năm đầu. Kiểm tra chặt chẽ việc sử dụng công quỹ của các đơn vị hành chính sự nghiệp, cải cách các quy trình thu thuế, xác định việc thu thuế đối với các hộ bán sỉ có doanh số lớn để thu thuế đúng và đủ. - Có giải pháp hữu hiệu để đẩy nhanh việc giải ngân vốn tín dụng Nhà nước. Thông báo vốn của quỹ hỗ trợ tỉnh cho các thành phần kinh tế biết để lập đề án sản xuất kinh doanh và vay vốn. Khai thác các nguồn vốn tín dụng thương mại trên cơ sở có phương án vay và vốn vay khả thi. Triển khai rộng rãi việc cho vay vốn bằng tín chấp được quy định tại
Mục III chương IV Nghị định 178/1999/NĐ-CP của Chính phủ.