NGHỊ QUYẾT Về tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh 6 tháng đầu năm và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh 6 tháng cuối năm 2018 HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG KHÓA IX KỲ HỌP THỨ CHÍN
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015; Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015
Sau khi nghe Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo t ình hình thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh 6 tháng đầu năm và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh 6 tháng cuối năm 2018 ; Báo cáo thẩm tra của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh; ý kiến thảo luận của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp. QUYẾT NGHỊ:
Điều 1
Hội đồng nhân dân tỉnh Hậu Giang thống nhất đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh 6 tháng đầu năm 2018, với những nội dung chủ yếu sau:
Trong 6 tháng đầu năm, được sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt của Ủy ban nhân dân tỉnh, sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và Nhân dân trong tỉnh, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục có chuyển biến và đạt được những kết quả quan trọng:
(1) Sau 2 năm tăng trưởng kinh tế bị chậm lại do ảnh hưởng của thiên tai, nay kinh tế của tỉnh đã phục hồi, tăng trưởng kinh tế đạt 8,01%, cao hơn kế hoạch đề ra là 6,8%, đặc biệt khu vực I có mức tăng ấn tượng 5,77% và khu vực II tăng 16,14% đều cao hơn kế hoạch (kế hoạch là 11%); cơ cấu kinh tế chuyển dịch khá tích cực, GRDP bình quân đầu người đạt 36 triệu đồng, tăng 18,7% so với cùng kỳ; đời sống Nhân dân được cải thiện.
(2) Lĩnh vực nông nghiệp đạt kết quả khá toàn diện, năng suất cây trồng, vật nuôi tăng, sản xuất của nông dân trúng mùa, trúng giá. Tái cơ cấu trong nông nghiệp bước đầu phát huy hiệu quả, tiếp tục thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi hiệu quả kém sang các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, phù hợp với nhu cầu thị trường. Công tác thanh tra, kiểm tra vật tư nông nghiệp, chất lượng nông sản và vệ sinh an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản được thực hiện thường xuyên, liên tục. Từ đó, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Việc thực hiện liên kết theo chuỗi giá trị được triển khai khá tích cực, từ đó sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, thủy sản và cây ăn trái đã có chuyển biến tốt. Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới được các địa phương tập trung thực hiện theo kế hoạch.
(3) Lĩnh vực công nghiệp tăng mạnh trong hơn 2 năm qua; số lượng dự án thu hút đầu tư trong nước tăng; phát triển doanh nghiệp chuyển biến khá, quy mô nguồn vốn của doanh nghiệp tăng dần, cho thấy môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện; giá trị xuất khẩu tăng so với cùng kỳ, thu ngân sách đạt khá; đầu tư công tiếp tục được tái cơ cấu, nợ đọng xây dựng cơ bản được kéo giảm theo lộ trình.
(4) Các lĩnh vực lao động, việc làm, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, y tế, văn hóa, giáo dục, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu được đặc biệt quan tâm và đạt những kết quả tốt. Hoạt động du lịch có nhiều chuyển biến tích cực.
(5) An ninh chính trị và trật tự xã hội được bảo đảm, số vụ tội phạm giảm so với cùng kỳ; công tác cải cách hành chính, xây dựng chính quyền và đấu tranh phòng, chống tham nhũng được chú trọng.
Bên cạnh những mặt đạt được, tình hình kinh tế - xã hội vẫn còn một số vấn đề tồn tại và khó khăn chủ yếu là:
(1) Sản xuất nông nghiệp còn phân tán, quy mô vùng nguyên liệu và cây ăn trái nhỏ, hiệu quả thấp, chưa tạo được môi trường liên kết vững chắc giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ; việc ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất chưa hiệu quả; xây dựng nông thôn mới còn gặp nhiều khó khăn, do thiếu nguồn lực; Đề án về chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi thực hiện còn chậm, do gặp khó khăn về nguồn vốn tín dụng.
(2) Sức cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ còn rất thấp. Việc thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp ngoài tỉnh, các doanh nghiệp nước ngoài còn hạn chế, chưa có hình thức phù hợp để mời gọi đầu tư hiệu quả vào Khu Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, không có quỹ đất sạch, cơ sở hạ tầng khu cụm công nghiệp chưa đồng bộ, gây khó khăn cho việc triển khai dự án của nhà đầu tư. Chất lượng nguồn nhân lực yếu, chưa đáp ứng được theo nhu cầu của doanh nghiệp, việc hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng kết quả vẫn còn hạn chế. Một số dự án triển khai chậm, tiến độ kéo dài, do các nhà đầu tư không có năng lực thực hiện dự án, có dự án kéo dài trên 10 năm vẫn chưa được xử lý.
(3) Một số công trình, dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn chậm tiến độ, trong đó có một số công trình thiếu vốn. Công tác giải phóng mặt bằng từng lúc còn chậm làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án đầu tư công. Công tác đầu tư xây dựng chợ tuy đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn còn khó khăn trong việc kêu gọi đầu tư vào các chợ vùng sâu, vùng xa.
(4) Chất lượng dịch vụ chưa được cải thiện nhiều; mức tiêu dùng trong Nhân dân còn thấp; tình trạng buôn lậu, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, kinh doanh trái phép ngày càng xuất hiện với nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi, phức tạp; vấn đề vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm vẫn còn diễn ra gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng; chất lượng môi trường, nhất là môi trường nước đang có xu hướng bị ô nhiễm.
(5) Tai nạn giao thông tăng cả 3 tiêu chí. Đời sống của một số cán bộ bán chuyên trách ở xã, ấp còn khó khăn, ảnh hưởng đến hiệu quả điều hành của chính quyền cấp cơ sở; số lượt người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và số đơn thư khiếu nại tăng so cùng kỳ.
Điều 2
Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất thông qua phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh 6 tháng cuối năm 2018, trong đó cần tập trung một số nhiệm vụ chủ yếu sau:
1. Tiếp tục triển khai thực hiện
Chương trình số 05/CTr-UBND ngày 30 tháng 5 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về thực hiện Nghị quyết số 27/NQ-CP của Chính phủ và Kế hoạch số 35-KH/TU của Tỉnh ủy về tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2016 - 2020. Tiếp tục tái cơ cấu ngành nông nghiệp, thủy sản theo hướng phát triển sản xuất quy mô lớn, tập trung gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị đối với lúa gạo, trái cây và thủy sản; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, nhằm tăng năng suất, chất lượng nông thủy sản hàng hóa, nâng cao sức cạnh tranh của những sản phẩm chủ lực trong tỉnh; ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất nhằm tiết giảm chi phí; rà soát điều chỉnh cơ cấu cây trồng phù hợp để nâng cao thu nhập của nông dân. Tập trung chỉ đạo các chương trình, đề án, dự án trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng vật tư nông nghiệp, chất lượng giống, thực hiện nghiêm ngặt các quy định về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi. Tập trung huy động nhiều nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới, cánh đồng lớn, khuyến khích kêu gọi doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Triển khai các dự án ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống lụt bão, sạt lở, xâm nhập mặn.
Chương trình hành động của Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo, gắn với nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh Hậu Giang.
Chương trình của UBND tỉnh về thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020. Các sở, ngành và địa phương chủ động giải quyết nhanh về các thủ tục liên quan đến dự án của các nhà đầu tư đã có phê duyệt chủ trương. Đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án đầu tư tại các khu, cụm công nghiệp, thu hút đầu tư phát triển chợ; tăng cường các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp. Đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại, liên kết hợp tác, tận dụng cơ hội thuận lợi, tranh thủ sự giúp đỡ đầu tư từ các nguồn vốn ODA, NGO, FDI để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước; đẩy mạnh xã hội hóa để có đủ nguồn lực thực hiện các dự án giao thông, xây dựng khu dân cư đô thị, nước sạch, điện nông thôn, xử lý rác, nhà ở cho người nghèo, người có công.
Chương trình mục tiêu quốc gia, vốn ODA; thực hiện nghiêm quy định của Luật Đầu tư công và các quy định về quản lý vốn đầu tư, xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ, giải quyết kịp thời các vướng mắc, khó khăn trong xây dựng cơ bản. Chủ động kêu gọi thu hút các nguồn vốn đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội để giảm gánh nặng đầu tư cho ngân sách nhà nước.
Điều 3
Hội đồng nhân dân tỉnh giao Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức thực hiện Nghị quyết theo quy định.
Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát quá trình thực hiện Nghị quyết.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Hậu Giang Khóa IX Kỳ họp thứ Chín thông qua ngày 06 tháng 7 năm 2018 và có hiệu lực từ ngày 16 tháng 7 năm 2018./.