QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Nay ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế vận động xây dựng, quản lý và sử dụng “Quỹ vì người nghèo” tỉnh Bến Tre.
Điều 2
Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh, Trưởng ban Tổ chức Chính quyền, Trưởng ban vận động “Quỹ vì người nghèo”, Thủ trưởng các cơ quan có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Quyết định này có hiệu kể từ ngày ký./.
TM.UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Huỳnh Văn Be
UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẾN TRE Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
QUY CHẾ
Vận động xây dựng, quản lý và sử dụng “Quỹ vì người nghèo”
( Ban hành kèm theo Quyết định số 4162/QĐ-UB ngày 14 tháng 9 năm 2001
của Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre )
Chương I
Điều 1
“Quỹ vì người nghèo” được hình thành trên cơ sở vận động sự tự nguyện ủng hộ của cá nhân, tổ chức trong và ngoài tỉnh, ngoài nước. Quỹ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận mà áp dụng hình thức trợ giúp cho người nghèo, hộ nghèo theo chuẩn mực của Nhà nước công bố từng thời kỳ.
Điều 2
“Quỹ vì người nghèo” được thành lập ở 3 cấp trong tỉnh: cấp tỉnh; cấp huyện (huyện, thị); cấp xã (xã, phường, thị trấn).
a) Ở mỗi cấp có Ban vận động xây dựng và điều hành “Quỹ vì người nghèo” gọi chung là Ban vận động quỹ.
b) Ban vận động quỹ các cấp chịu trách nhiệm trước pháp luật về tổ chức, quản lý và điều hành quỹ.
Điều 3
Tổ chức vận động ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” được duy trì thường xuyên và liên tục các ngày trong năm, nhưng tập trung ủng hộ vào thời điểm cao nhất từ 17/10 đến 17/11 hàng năm. Tồn quỹ năm trước được chuyển sang năm sau sử dụng.
Điều 4
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Bến Tre chủ trì việc vận động xây dựng quỹ; phối hợp với các sở, ngành có liên quan trong việc quản lý và sử dụng quỹ, cụ thể như sau:
Sở Lao động Thương binh và Xã hội xác định đối tượng, địa bàn, mức hỗ trợ, thực hiện hỗ trợ theo chuẩn mực người nghèo, hộ nghèo được Nhà nước công bố từng thời kỳ.
Sở Tài chánh Vật giá hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thu, chi quỹ theo đúng pháp luật và chế độ tài chánh, kế toán, thống kê của Nhà nước.
Điều 5
Đối tượng vận động xây dựng “Quỹ vì người nghèo” bao gồm: các cá nhân, các hộ gia đình (trừ hộ nghèo A,B,C,D), các đơn vị, tổ chức trong và ngoài tỉnh, ngoài nước.
Chương II
Điều 6
Đối tượng vận động xây dựng quỹ được quy định cho từng cấp như sau:
1) Cấp tỉnh vận động những đối tượng đang làm việc tại:
Các cơ quan hành chánh sự nghiệp cấp tỉnh.
Các cơ quan của Đảng, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức xã hội nghề nghiệp do cấp tỉnh trực tiếp quản lý.
Các doanh nghiệp do cấp tỉnh trực tiếp quản lý (riêng các doanh nghiệp của Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh, mặc dù không phải đối tượng vận động ở địa phương nhưng rất hoan nghênh sự đóng góp của các cơ quan TW đóng trên địa bàn ủng hộ cho quỹ).
2) Cấp huyện vận động những đối tượng đang làm việc tại:
Các cơ quan hành chánh sự nghiệp cấp huyện.
Các cơ quan của Đảng, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức xã hội nghề nghiệp do cấp huyện trực tiếp quản lý.
Các doanh nghiệp do cấp huyện trực tiếp quản lý (kể cả các doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã …).
3) Cấp xã vận động những đối tượng trên địa bàn do cấp xã trực tiếp quản lý và các cơ sở thờ tự trên địa bàn.
4) Đối với lực lượng vũ trang ( thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an ) ủng hộ theo hệ thống dọc và nộp về quỹ cấp Trung ương.
5) Các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài ủng hộ vào quỹ cấp nào là tuỳ thuộc vào sự tự nguyện của đơn vị, tổ chức, cá nhân đó.
Điều 7
“Quỹ vì người nghèo” được sử dụng theo nguyên tắc dân chủ, công khai và được hỗ trợ đúng đối tượng nghèo vào các nội dung sau:
1) Hỗ trợ cho người nghèo, hộ nghèo:
Trợ giúp tiền mua vật tư nông nghiệp như giống, cây, con…mức hỗ trợ 200.000 đồng/hộ.
Trợ giúp sửa chữa nhà ở - mức hỗ trợ 500.000 đồng /hộ; làm nhà tình thương mức hỗ trợ trong khoảng từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng/nhà.
Trợ giúp cho con đi học - mức hỗ trợ 1 lần 100.000 đồng/học sinh/1 học kỳ.
Trợ giúp chữa bệnh khi ốm đau nằm viện dài ngày, ngoài chế độ khám chữa bệnh miễn giảm phí hiện hành. Nếu như người nghèo phải nằm viện dài ngày( từ 10 ngày trở lên) mức hỗ trợ 100.000đ/người.
Trợ giúp cứu đói khi cần thiết, vận dụng
Điều 3 trong Quyết định 938/QĐ-TTg, hộ đói được hỗ trợ trong thời gian 2 tháng, mỗi tháng 10kg gạo/người.
2) Chi các hoạt động phục vụ cho công tác quản lý, hoạt động tuyên truyền, khen thưởng, kiểm tra đánh giá…phục vụ cho công tác chỉ đạo, vận động xây dựng quỹ ở các cấp.
Việc sử dụng quỹ cho từng nội dung và mức chi cụ thể tại các khoản 1, 2
Điều 7 của Quy chế này do Ban vận động quỹ từng cấp quyết định căn cứ vào tình hình thực tế và khả năng của quỹ.
Chương III
Điều 8
Thành lập Ban vận động xây dựng, quản lý điều hành “Quỹ vì người nghèo” các cấp.
1- Ban vận động “Quỹ vì người nghèo” cấp tỉnh do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định thành lập. Chủ tịch UBMTTQ tỉnh làm Trưởng ban. Lãnh đạo Sở Lao động Thương binh và Xã hội làm Phó Trưởng ban và một Phó Chủ tịch UBMTTQ tỉnh làm Phó trưởng ban thường trực Ban vận động. Các thành viên gồm: đại diện lãnh đạo Liên đoàn Lao động tỉnh, Hội Nông dân tỉnh, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Đoàn Thanh niên Cộng sản HCM tỉnh, Hội Cựu chiến binh tỉnh, Hội Chữ thập đỏ tỉnh, Sở Tài chánh Vật giá, Đài Phát thanh- Truyền hình, báo Đồng Khởi.
2- Ban vận động “Quỹ vì người nghèo” cấp huyện do Chủ tịch UBND huyện quyết định thành lập, Chủ tịch UBMTTQ huyện làm Trưởng ban, Lãnh đạo Phòng Tổ chức Lao động TBXH làm Phó trưởng ban và một Phó Chủ tịch UBMTTQ huyện làm Phó trưởng ban Thường trực Ban vận động. Các thành viên gồm: đại diện lãnh đạo cấp huyện, một số ngành, một số tổ chức thành viên của MTTQ huyện.
3- Ban vận động “Quỹ vì người nghèo” cấp xã do Chủ tịch UBND xã quyết định thành lập. Chủ tịch UBMTTQ xã làm Trưởng ban, Trưởng ban xoá đói giảm nghèo làm Phó ban. Các thành viên gồm: Trưởng ban Tài chánh, đại diện lãnh đạo của một số tổ chức thành viên MTTQ xã.
4- Thường trực của Ban vận động “Quỹ vì người nghèo” từng cấp gồm Trưởng ban và các Phó ban.
5- Ban vận động quỹ cấp tỉnh, cấp huyện có bộ phận giúp việc gồm một số cán bộ kiêm nhiệm của UBMTTQ, Lao động TBXH, Tài chánh.
Văn phòng giúp việc đặt tại cơ quan UBMTTQ cùng cấp.
Điều 9.
1- Hoạt động của quỹ theo nguyên tắc tự tạo vốn, tự trang trải các chi phí cho hoạt động vì người nghèo, hộ nghèo. Các khoản chi về công tác quản lý, khen thưởng, hoạt động vận động xây dựng quỹ không vượt quá 5% tổng số tiền thu hàng năm của quỹ ở từng cấp.
2- Ban vận động “Quỹ vì người nghèo”các cấp được sử dụng con dấu riêng để giao dịch, có tư cách pháp nhân, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để theo dõi thu, chi quỹ. Riêng Ban vận động cấp xã nguồn quỹ thu được tập trung gửi tại Kho bạc huyện. Trưởng ban vận động quỹ là chủ tài khoản và chịu trách nhiệm về hoạt động của quỹ.
3- Ban vận động “Quỹ vì người nghèo” ở từng cấp có nhiệm vụ về quản lý tài chánh như sau:
Chỉ đạo việc xây dựng, quản lý, sử dụng quỹ; kiểm tra các hoạt động của quỹ thuộc cấp mình quản lý, đảm bảo thu chi đúng quy định, thực hiện công khai mọi khoản thu, chi và chấp hành đúng chế độ tài chánh, kế toán của Nhà nước.
Báo cáo kết quả thu, chi quỹ cho Ban vận động quỹ cấp trên và cơ quan Tài chánh cùng cấp.
Ban vận động cấp trên trực tiếp có quyền điều tiết số tiền huy động được từ cấp có nguồn thu cao sang cấp có nguồn thu thấp. Việc điều chuyển do Trưởng ban vận động cấp trên quyết định sau khi có sự trao đổi thống nhất với cấp bị điều tiết để sử dụng theo các nội dung chỉ quy định tại
Điều 7 của Quy chế này.
Tổ chức kế toán và báo cáo quyết toán thu, chi quỹ đúng chế độ kế toán đơn vị hành chánh sự nghiệp theo quy định hiện hành.
4- Nghiêm cấm các tổ chức, cá nhân lợi dụng việc thành lập và hoạt động của quỹ để thu lợi và hoạt động bất hợp pháp.
5- Ban vận động “Quỹ vì người nghèo” ở từng cấp mỗi tháng hợp một lần, ngoài ra tuỳ theo công việc có thể hợp bất thường để giải quyết những vấn đề đột xuất cần thiết trong hoạt động.
Chương IV
Điều 10
Ban vận động quỹ cấp trên có trách nhiệm kiểm tra việc thu, chi và quản lý quỹ của cấp dưới.
Điều 11
Tổ chức, cá nhân xây dựng và quản lý “Quỹ vì người nghèo” có thành tích được khen thưởng, nếu vi phạm các quy định của Quy chế này thì tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm mà xử lý kỷ luật hoặc bị xử lý theo pháp luật./.