THÔNG TƯ Hướng dẫn việc quản lý và xử lý tài sản của các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước khi dự án kết thúc
Căn cứ Luật Ngân sách Nhà nước ngày 16 tháng 12 năm 2002
Căn cứ Nghị định số 14/1998/NĐ-CP ngày 06 tháng 3 năm 1998 của Chính phủ về quản lý tài sản nhà nước;
Căn cứ Nghị định số 77/2003/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính; Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý và xử lý tài sản của các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước khi dự án kết thúc như sau: A. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này hướng dẫn việc quản lý và xử lý tài sản thuộc các chương trình, dự án (sau đây gọi chung là dự án) sử dụng vốn ngân sách nhà nước, bao gồm cả các dự án sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn viện trợ không hoàn lại đưa vào cân đối ngân sách nhà nước khi dự án kết thúc. Thông tư này không áp dụng đối với dự án của các tổ chức kinh tế được ngân sách nhà nước hỗ trợ vốn. 2. Đối tượng điều chỉnh a) Tài sản được trang cấp để phục vụ hoạt động của dự án khi dự án kết thúc bao gồm: - Nhà, đất thuộc trụ sở làm việc và các công trình xây dựng khác gắn liền với đất; - Phương tiện giao thông vận tải; - Máy móc, trang thiết bị làm việc và các tài sản khác phục vụ hoạt động của dự án. b) Tài sản của các dự án sử dụng vốn ODA và nguồn viện trợ không hoàn lại khi dự án kết thúc, nhà tài trợ chuyển giao tài sản cho Nhà nước Việt Nam. Việc xử lý các tài sản được trang cấp để phục vụ hoạt động của dự án nhưng không còn sử dụng được hoặc không cần sử dụng trong quá trình thực hiện dự án cũng được thực hiện theo quy định tại Thông tư này. 3. Trường hợp Ban quản lý dự án thực hiện quản lý nhiều dự án, hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp, thì việc quản lý và xử lý đối với tài sản phục vụ công tác chung của Ban quản lý dự án thực hiện theo quy định áp dụng đối với cơ quan hành chính sự nghiệp; việc quản lý và xử lý đối với tài sản được trang cấp để phục vụ hoạt động riêng của từng dự án thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư này. 4. Khi dự án kết thúc, chủ đầu tư, chủ dự án hoặc Ban quản lý dự án (sau đây gọi chung là Ban quản lý dự án) có trách nhiệm bảo quản tài sản và hồ sơ của tài sản theo nguyên trạng cho đến khi bàn giao cho cơ quan, đơn vị được tiếp nhận hoặc hoàn thành việc bán, thanh lý tài sản theo quyết định của cấp có thẩm quyền; không được tự ý tháo dỡ, thay đổi kết cấu, phụ tùng, linh kiện của tài sản hoặc cho thuê, cho mượn tài sản. B. NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ I. CÁC HÌNH THỨC XỬ LÝ TÀI SẢN Tài sản phục vụ hoạt động của các dự án khi dự án kết thúc (bao gồm cả kết thúc từng phần hoặc theo từng giai đoạn thực hiện của dự án nếu không còn nhu cầu sử dụng) được xử lý theo các hình thức sau đây: 1. Điều chuyển cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức của Nhà nước có nhu cầu sử dụng tài sản hoặc còn thiếu tài sản so với tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; 2. Bán, thanh lý nộp tiền vào ngân sách nhà nước, sau khi trừ đi các chi phí bảo quản, bàn giao và tổ chức bán, thanh lý tài sản (nếu có). 3. Việc xử lý tài sản là nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất có liên quan đến quyền sử dụng đất thực hiện theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành. II. THẨM QUYỀN XỬ LÝ TÀI SẢN 1. Thẩm quyền xử lý tài sản của các dự án thuộc Trung ương quản lý a) Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quyết định bán, điều chuyển tài sản là nhà và các công trình xây dựng khác gắn liền với đất cho các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức khác theo đề nghị của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan Trung ương của các đoàn thể và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. b) Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định điều chuyển tài sản không thuộc phạm vi tiết a điểm này giữa các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức khác theo đề nghị của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan Trung ương của các đoàn thể và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. c) Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan Trung ương của các đoàn thể quyết định sau khi có văn bản thoả thuận của Bộ Tài chính: - Điều chuyển tài sản từ các dự án thuộc mình quản lý khi dự án kết thúc cho các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp trực thuộc; - Điều chuyển tài sản từ các dự án kết thúc để phục vụ hoạt động của các dự án khác thuộc phạm vi mình quản lý; - Bán, thanh lý đối với tài sản không thuộc phạm vi tiết a điểm này. 2. Thẩm quyền xử lý tài sản của các dự án thuộc địa phương quản lý a) Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định điều chuyển, bán, thanh lý các tài sản là nhà, đất thuộc trụ sở làm việc, các công trình xây dựng khác gắn liền với đất và phương tiện giao thông vận tải theo đề nghị của Giám đốc Sở Tài chính. b) Giám đốc Sở Tài chính quyết định: - Điều chuyển những tài sản không thuộc phạm vi tiết a điểm này cho các Sở, ban, ngành, cơ quan, đoàn thể thuộc cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện; - Bán, thanh lý những tài sản không thuộc phạm vi tiết a điểm này có nguyên giá theo sổ kế toán từ 100 triệu đồng trở lên/1 đơn vị tài sản; c) Thủ trưởng các Sở, ban, ngành ở cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định bán, thanh lý những tài sản không thuộc phạm vi tiết a điểm này có nguyên giá theo sổ kế toán dưới 100 triệu đồng/1 đơn vị tài sản. III. TRÌNH TỰ XỬ LÝ TÀI SẢN 1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày dự án kết thúc hoặc tài sản không còn sử dụng được, không có nhu cầu sử dụng trong quá trình thực hiện dự án, Ban quản lý dự án có trách nhiệm kiểm kê các tài sản của dự án theo Biên bản kiểm kê tài sản (Phụ lục 01/TSDA ban hành kèm theo Thông tư này) gửi Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan Trung ương của các đoàn thể là cơ quan chủ quản dự án (đối với các dự án thuộc Trung ương quản lý); gửi Sở, ban, ngành ở cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là cơ quan chủ quản dự án (đối với các dự án thuộc địa phương quản lý). Trường hợp khi kiểm kê phát hiện thừa, thiếu tài sản phải ghi rõ trong Biên bản kiểm kê tài sản, xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm, đề xuất biện pháp xử lý theo quy định hiện hành của pháp luật về quản lý tài sản cố định. 2. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan Trung ương của các đoàn thể (đối với các dự án thuộc Trung ương quản lý); Sở, ban, ngành ở cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (đối với các dự án thuộc địa phương quản lý) có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị xử lý tài sản của dự án kết thúc để xử lý theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định tại
Mục II
Phần B Thông tư này.
Mục này được sử dụng từ số tiền thu được do bán đấu giá hoặc thanh lý tài sản. Trường hợp việc xử lý tài sản không phát sinh nguồn thu hoặc số thu không đủ bù đắp chi phí, thì phần chi phí còn thiếu được quyết toán vào chi phí khác của dự án.