THÔNG TƯ Hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2004/NĐ-CP ngày 25 tháng 02 năm 2004 của Chính phủ quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế
Căn cứ Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính số 44/2002/PL-UBTVQH10 ngày 02/7/2002 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Căn cứ Nghị định số 100/2004/NĐ-CP ngày 25 tháng 02 năm 2004 của Chính phủ quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế;
Căn cứ Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002;
Căn cứ Nghị định số 77/2003/NĐ-CP ngày 1 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính; Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện cụ thể như sau: A. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG I. PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG Cá nhân, cơ quan, tổ chức của Việt Nam, nước ngoài (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm những qui định của pháp luật thuế mà không phải là tội phạm phải bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế theo quy định tại Thông tư này, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc ra nhập có quy định khác. Những vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế gồm: a) Vi phạm quy định về đăng ký thuế, kê khai thuế, lập, nộp quyết toán thuế; b) Vi phạm quy định về thu, nộp tiền thuế, tiền phạt; c) Vi phạm quy định về kiểm tra; thanh tra về thuế; d) Các hành vi trốn thuế. II. NGUYÊN TẮC XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THUẾ 1. Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay. Việc xử lý vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật. 2. Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế khi có vi phạm quy định tại
Điều 1 Nghị định số 100/2004/NĐ-CP ngày 25 tháng 2 năm 2004 và
Mục I,
Phần A Thông tư này.
Mục III,
Phần A Thông tư này;
Mục VI,
Phần A Thông tư này;
Điều 121 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và điểm 4,
Điều 3 Nghị định số 100/2004/NĐ-CP ngày 25/2/2004 của Chính phủ.
IV. CÁC HÌNH THỨC XỬ PHẠT
1. Mỗi vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây:
a) Cảnh cáo;
b) Phạt tiền.
2. Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.
3. Ngoài các hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung, cá nhân, tổ chức vi phạm có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau:
a) Buộc tiêu huỷ hoá đơn, chứng từ, sổ kế toán in, phát hành sai quy định;
b) Tạm đình chỉ sử dụng hoá đơn;
Việc tạm đình chỉ sử dụng hoá đơn chỉ được thực hiện khi đối tượng nộp thuế không thực hiện đúng quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế. Thời gian tạm đình chỉ sử dụng hoá đơn tối đa không quá 03 tháng kể từ ngày tổ chức, cá nhân không thực hiện đúng quyết định xử phạt; trường hợp vi phạm được khắc phục trong thời gian sớm hơn 03 tháng thì việc tạm đình chỉ sử dụng hoá đơn sẽ hết hiệu lực ngay sau ngày các vi phạm đã được khắc phục xong. Trường hợp đã hết thời gian 03 tháng mà đối tượng nộp thuế vẫn chưa thực hiện đúng các quyết định xử phạt thì sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành .
V. TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ, TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG
1. Tình tiết giảm nhẹ
a) Người vi phạm hành chính đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của vi phạm hoặc tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại;
b) Người vi phạm hành chính đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi;
c) Vi phạm trong tình trạng bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra;
d) Vi phạm do bị ép buộc hoặc bị lệ thuộc về vật chất hoặc tinh thần;
đ) Người vi phạm là phụ nữ có thai, người già yếu, người có bệnh hoặc tàn tật làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
e) Vi phạm vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình gây ra;
g) Vi phạm do trình độ lạc hậu.
2. Tình tiết tăng nặng
Chỉ những tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng:
a) Vi phạm có tổ chức;
b) Vi phạm nhiều lần trong cùng lĩnh vực hoặc tái phạm trong cùng lĩnh vực;
c) Xúi giục, lôi kéo người chưa thành niên vi phạm, ép buộc người bị lệ thuộc vào mình về vật chất, tinh thần vi phạm;
d) Vi phạm trong tình trạng say do dùng rượu, bia hoặc các chất kích thích khác;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm;
e) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, hoàn cảnh thiên tai hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để vi phạm;
g) Vi phạm trong thời gian đang chấp hành hình phạt của bản án hình sự hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính;
h) Tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm hành chính mặc dù người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứt hành vi đó;
i) Sau khi vi phạm đã có hành vi trốn tránh, che giấu vi phạm hành chính.
VI. GIẢI THÍCH TỪ NGỮ
1. Thuế là các khoản thu theo quy định của pháp luật, bao gồm thuế và các khoản thu khác, trừ khoản thu về phí và lệ phí do cơ quan thu thuế quản lý.
2. Hành vi trốn thuế là hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về thuế dẫn đến làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế đưược hoàn hoặc đưược miễn, giảm. Các tiêu chí để xác định hành vi trốn thuế là:
+ Chủ thể của hành vi trốn thuế là các cá nhân hoặc tổ chức thuộc đối tượng nộp thuế.
+ Hậu quả của hành vi vi phạm là dẫn đến việc làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm.
3. Thời điểm xác định cá nhân, tổ chức hoàn thành hành vi trốn thuế để xử phạt về hành vi trốn thuế là thời điểm cá nhân, tổ chức đã hoàn thành việc kê khai số thuế phải nộp theo quy định của pháp luật về thuế hoặc thời điểm cơ quan có thẩm quyền ra quyết định hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế (nếu có) theo hồ sơ đề nghị của cá nhân, tổ chức đó, cụ thể như sau:
a) Đối với các trường hợp pháp luật quy định chế độ kê khai, tạm nộp hàng tháng, quyết toán theo năm thì thời điểm cá nhân tổ chức thực hiện nộp quyết toán thuế năm theo quy định của pháp luật về thuế là thời điểm hoàn thành việc kê khai số thuế phảỉ nộp;
b) Đối với các trường hợp pháp luật quy định kê khai, nộp thuế 1 lần là thời điểm cá nhân, tổ chức hoàn thành việc kê khai số tiền thuế phải nộp theo quy định của pháp luật về thuế;
c) Đối với các trường hợp hoàn thuế, miễn, giảm thuế là thời điểm quyết định hoàn thuế, miễn, giảm thuế của cơ quan thuế có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành hoặc thời điểm cá nhân, tổ chức hoàn thành việc kê khai miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật;
d) Trường hợp pháp luật về thuế quy định cho phép đối tượng nộp thuế điều chỉnh, bổ sung tờ khai thuế, quyết toán thuế kê khai miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp thì thời điểm xác định cá nhân, tổ chức hoàn thành hành vi trốn thuế là thời điểm cá nhân, tổ chức đã hoàn thành việc kê khai điều chỉnh, bổ sung tờ khai thuế, quyết toán thuế, kê khai miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp.
4. Hàng hoá, nguyên, vật liệu nêu tại Thông tư này là các loại hàng hoá, nguyên, vật liệu không bị pháp luật cấm kinh doanh. Hàng hoá lưưu thông bao gồm: Hàng hoá, nguyên, vật liệu đang vận chuyển trên đưường; hàng hoá, nguyên, vật liệu bày bán tại địa điểm bán hàng; hàng hoá, nguyên, vật liệu trong kho hoặc hàng hoá, nguyên, vật liệu tại nơi sản xuất, kinh doanh.
5. Không đăng ký thuế là trường hợp đăng ký thuế quá thời hạn từ trên 10 ngày làm việc hoặc trên 10 ngày làm việc vẫn chưa thực hiện việc đăng ký thuế.
6. Không nộp tờ khai thuế là trưường hợp nộp tờ khai thuế quá thời hạn từ trên 10 ngày làm việc hoặc trên 10 ngày làm việc vẫn chưa nộp tờ khai thuế.
7. Không nộp quyết toán thuế là trưường hợp nộp quyết toán thuế quá thời hạn từ trên 90 ngày làm việc hoặc trên 90 ngày làm việc vẫn chưa nộp quyết toán thuế.
B. HÀNH VI VI PHẠM, HÌNH THỨC VÀ MỨC XỬ PHẠT
Căn cứ quy định tại
Điều 8,
Điều 9,
Điều 10,
Điều 11
Chương II Nghị định số 100/2004/NĐ-CP ngày 25 tháng 02 năm 2004 của Chính phủ, những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh thuế; hình thức và mức phạt cụ thể như sau:
Mục I,
Phần B Thông tư này, sau khi bị xử phạt vi phạm hành chính vẫn chưa đăng ký thuế, nộp tờ khai thuế, quyết toán thuế sẽ bị ấn định số thuế tạm nộp theo quy định của pháp luật về thuế.
Điều 5 Nghị định 100/2004/NĐ-CP ngày 25/2/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.
2. Mức phạt tiền cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là
3.500.000 đồng;
Trường hợp có một tình tiết giảm nhẹ, mức phạt tiền là
2.500.000 đồng;
Trường hợp có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên, mức phạt tiền là
2.000.000 đồng;
Trường hợp có một tình tiết tăng nặng, mức phạt tiền là
4.000.000 đồng;
Trường hợp có từ hai tình tiết tăng nặng trở lên, mức phạt tiền là
5.000.000 đồng;
Đối với tổ chức, cá nhân chi trả lương, chi trả thu nhập; ngân hàng, tổ chức tài chính, tín dụng khác nơi đối tượng bị xử phạt mở tài khoản không thực hiện trích nộp ngân sách Nhà nước số tiền thuế, tiền phạt theo lệnh thu, quyết định trích nộp ngân sách Nhà nước của cơ quan có thẩm quyền sau 10 ngày từ ngày được giao lệnh thu, quyết định trích nộp ngân sách Nhà nước sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, mức xử phạt theo quy định tại điểm 2,
Mục II,
Phần B Thông tư này, điều kiện để xem xét xử phạt thực hiện theo quy định tại tiết 2.1.a, điểm 2,
Mục II,
Phần D Thông tư này.
Mục IV,
Phần B Thông tư này.
Mục III,
Phần B Thông tư này;
Mục IV,
Phần B Thông tư này, làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm.
Mục IV,
Phần B Thông tư này mà không xác định được chính xác số thuế phải nộp sẽ bị áp dụng biện pháp ấn định số thuế phải nộp theo quy định của pháp luật về thuế.
Mục IV,
Phần B Thông tư này còn bị áp dụng biện pháp tạm đình chỉ sử dụng hoá đơn theo quy định tại tiết b, điểm 3.2,
Mục C Thông tư số 120/2002/TT-BTC ngày 30/12/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 07/11/2002 của Chính phủ về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn.
Mục IV,
Phần B Thông tư này trước thời điểm quy định tại điểm 3,
Mục VI,
Phần A Thông tư này thì không xử phạt về hành vi trốn thuế theo quy định tại Điều này mà xử phạt theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán.
Mục IV,
Phần B Thông tư này trước thời điểm quy định tại điểm 3,
Mục VI,
Phần A Thông tư này thì không xử phạt về hành vi trốn thuế theo quy định tại Điều này mà xử phạt theo quy định của Chính phủ về in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn.
Mục IV,
Phần A Thông tư này.
Mục IV,
Phần A Thông tư này.
Mục IV,
Phần A Thông tư này;
Điều 12 của Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính.
4. Cục trưởng Cục điều tra chống buôn lậu thuộc Tổng cục Hải quan có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 100.000.000 đồng;
c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;
d) Áp dụng biện pháp quy định tại tiết b, điểm 3,
Mục IV,
Phần A Thông tư này.
Điều 28,
Điều 29,
Điều 30 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.
IV. VIỆC UỶ QUYỀN XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ NGUYÊN TẮC XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THUẾ
1. Việc uỷ quyền xử phạt vi phạm hành chính thực hiện như sau:
a) Việc ủy quyền xử phạt vi phạm hành chính do các chức danh quy định tại
Điều 41 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính chỉ được thực hiện đối với cấp phó trực tiếp. Việc ủy quyền chỉ được thực hiện bằng văn bản và trong trường hợp cấp trưởng vắng mặt;
b) Cấp phó được cấp trưởng ủy quyền có quyền xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền của cấp trưởng mà mình được uỷ quyền và phải chịu trách nhiệm về quyết định xử phạt vi phạm hành chính do mình thực hiện. Người được uỷ quyền không được ủy quyền tiếp cho bất kỳ cá nhân nào khác.
2. Nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại các
Mục I,
Mục II,
Mục III,
Phần C Thông tư này được quy định:
Mục IV,
Phần A Thông tư này và tịch thu tang vật vi phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành, lưu thông;
Mục I,
Phần D Thông tư này, mà không biết rõ chủ sở hữu, người quản lý, người sử dụng hợp pháp hoặc những người này không đến nhận thì người có thẩm quyền tịch thu phải thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền tịch thu; trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo được niêm yết công khai, nếu không xác định được chủ sở hữu, người quản lý, người sử dụng hợp pháp hoặc những người này không đến nhận thì người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm để xử lý theo quy định tại tiết a, điểm 9,
Mục I,
Phần D Thông tư này;
Mục II,
Phần D Thông tư này mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thì bị cưỡng chế thi hành bằng các biện pháp sau đây:
Mục II,
Phần D Thông tư này phải được thông báo bằng văn bản trước khi thi hành cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện việc cưỡng chế để phối hợp thực hiện;
Mục III,
Phần B; điểm 1, 2, 3, 4,
Mục IV,
Phần B Thông tư này, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm theo quy định tại Bộ luật Hình sự thì người có thẩm quyền phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền.
Mục IV,
Phần A Thông tư này nếu biện pháp đó được ghi trong quyết định. Trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn thì thời hiệu nói trên được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, trì hoãn.