CHỈ THỊ Về chấn chỉnh quản lý đầu tư và xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước Thời gian qua, nguồn vốn đầu tư nhà nước (bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước) ngày càng tăng cao, cùng với các nguồn vốn khác và những nỗ lực cố gắng trong quản lý đầu tư và xây dựng của Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp đã tạo nên sự chuyển biến quan trọng hạ tầng kinh tế - xã hội, thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực của nhiều ngành kinh tế và cải thiện rõ nét văn minh đô thị ở nhiều thành phố, thị xã, khu tập trung dân cư. Tuy nhiên, công tác quản lý đầu tư và xây dựng nói chung, trong đó đặc biệt là quản lý đầu tư và xây dựng dự án, công trình bằng nguồn vốn nhà nước còn nhiều yếu kém, thiếu sót đã dẫn đến tình trạng đầu tư dàn trải, kéo dài và kém hiệu quả, nợ đọng trong đầu tư tăng cao, trở thành vấn đề nổi cộm và bức xúc hiện nay; các hiện tượng tiêu cực còn khá phổ biến trong đầu tư xây dựng làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công trình, gây thất thoát, lãng phí lớn đang là vấn đề quan tâm sâu sắc trong xã hội. Để chấn chỉnh tình hình này, tạo chuyển biến mới về nâng cao hiệu quả và chất lượng đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2004, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (dưới đây gọi chung là Bộ), ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (dưới đây gọi chung là tỉnh), các Tổng công ty 91 triển khai thực hiện ngay một số công việc sau đây: 1. Các Bộ và tỉnh khẩn trương phân bổ vốn đầu tư và giao cho cơ sở thực hiện theo các nguyên tắc: - Các dự án được ghi vốn đầu tư trong kế hoạch năm 2004 phải tuân thủ các quy định hiện hành về quản lý đầu tư và xây dựng theo các Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08 tháng 7 năm 1999; số 12/2000/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2000; số 07/2003/NĐ-CP ngày 30 tháng 01 năm 2003 của Chính phủ về Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng; Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 1999; số 14/2000/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2000, số 66/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ về Quy chế đấu thầu và các văn bản pháp quy liên quan. - Trước khi phân bổ vốn cần rà soát lại các dự án chuyển tiếp và xử lý theo hướng: + Kiên quyết cắt giảm hoặc rút bỏ các công trình, dự án không phù hợp với quy hoạch phát triển được duyệt, các công trình, dự án không sát với yêu cầu thiết thực của ngành, của địa phương, của thị trường. + Chưa bố trí và giao vốn cho các dự án chuyển tiếp nhưng chưa đủ thủ tục về đầu tư và xây dựng theo quy định, chưa xác định rõ hiệu quả. Không được triển khai đối với các dự án đã có quyết định đầu tư, nhưng vẫn chưa đầy đủ thủ tục về đầu tư và xây dựng hoặc không có khả năng cân đối vốn theo tiến độ được duyệt. - Các dự án khởi công mới phải đảm bảo phù hợp với quy hoạch được duyệt; có quyết định đầu tư trước thời điểm 31 tháng 10 năm trước; có thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán được duyệt theo đúng quy định của Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng. Đối với dự án nhóm A, nếu chưa có thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán được phê duyệt, nhưng có yêu cầu cần thiết phải khởi công thì phải có thiết kế kỹ thuật và dự toán hạng mục khởi công được người có thẩm quyền phê duyệt và có hợp đồng giao nhận thầu hợp pháp. Chậm nhất
sau khi thực hiện được 30% tổng mức đầu tư, phải có thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán được người có thẩm quyền phê duyệt. 2. Các Bộ và tỉnh phải bố trí vốn đầu tư tập trung, có trọng điểm, phù hợp với khả năng cân đối vốn năm 2004 và những năm tiếp theo. Khi phân bổ dự toán vốn đầu tư năm 2004, phải dành một phần vốn được giao để thanh toán số nợ vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn ngân sách nhà nước từ năm 2003 trở về trước đối với các dự án phù hợp quy hoạch và đầy đủ thủ tục; trả các khoản nợ vay tín dụng ưu đãi để thực hiện chương trình kiên cố hoá kênh mương, giao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng làng nghề, hạ tầng thuỷ sản; bố trí vốn đầu tư để thực hiện các công trình quan trọng chuyển tiếp; bố trí đủ vốn đối ứng cho các dự án ODA theo tiến độ thực hiện và theo Hiệp định đã ký kết với nước ngoài.
Sau khi bố trí vốn thực hiện những nhiệm vụ nêu trên mới bố trí vốn cho những dự án khởi công mới theo đúng các yêu cầu nêu tại điểm 1. Bố trí vốn đầu tư phải lưu ý yêu cầu đảm bảo các dự án được phê duyệt có thể hoàn thành đúng thời hạn quy định (các dự án nhóm C phải được cân đối vốn đầu tư để đảm bảo thời gian thực hiện từ khi khởi công đến khi hoàn thành không quá 02 năm; các dự án nhóm B tối đa là 04 năm). Các Bộ, các tỉnh phải chỉ đạo và giám sát việc thực hiện khối lượng đầu tư không vượt mức vốn giao kế hoạch năm 2004. Từ năm 2004, ngân sách trung ương không dành vốn để thanh toán nợ vốn xây dựng cơ bản vượt kế hoạch. Các chủ đầu tư và chính quyền các địa phương có công trình xây dựng phải phối hợp chặt chẽ với nhau để triển khai công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư ngay từ tháng đầu năm 2004, bảo đảm tiến độ thi công, tránh tình trạng "vốn chờ công trình". 3. Khi phân bổ vốn đầu tư, các địa phương phải bảo đảm cơ cấu đầu tư hợp lý giữa các cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội; riêng hai lĩnh vực giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ phải đảm bảo bố trí mức vốn tối thiểu được giao tại Quyết định số 242/2003/QĐ-TTg ngày 17 tháng 11 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ. Vốn hỗ trợ có mục tiêu của ngân sách trung ương phải bố trí đúng theo các mục tiêu hỗ trợ ghi trong kế hoạch. Các tỉnh được quyền điều chỉnh mức vốn giữa các nhiệm vụ trong mục tiêu được hỗ trợ, nhưng không được điều chuyển vốn của mục tiêu này cho mục tiêu khác. Ngân sách trung ương chỉ hỗ trợ một phần vốn cho các dự án, các tỉnh có trách nhiệm bố trí thêm vốn đầu tư từ nguồn ngân sách địa phương nhằm đẩy nhanh tiến độ xây dựng sớm đưa công trình vào sử dụng. 4. Các cơ quan quản lý
Chương trình mục tiêu quốc gia tăng cường hướng dẫn nghiệp vụ, đôn đốc, kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia của các Bộ và các tỉnh.