THÔNG TƯ Hướng dẫn Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
Căn cứ Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14/6/2005
Căn cứ Luật Hải quan số 29/2001/QH10 ngày 29/6/2001; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 42/2005/QH11 ngày 14/6/2005;
Căn cứ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006;
Căn cứ Nghị định số 77/2003/NĐ-CP ngày 11/7/2003 của Chính Phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Căn cứ Nghị định số 40/NĐ-CP ngày 16/3/2007 của Chính phủ quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện như sau:
Phần I
Điều 42 của Luật Quản lý thuế.
IV. GIẢI THÍCH TỪ NGỮ
Các từ ngữ sử dụng trong Thông tư này được hiểu như sau:
1."Hợp đồng mua bán hàng hoá" là thoả thuận mua bán hàng hoá dưới hình thức văn bản để nhập khẩu hàng hoá vào Việt Nam, theo đó người bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho người mua và nhận tiền; người mua có nghĩa vụ trả tiền cho người bán và nhận hàng. Các hình thức điện báo, telex, fax, thư điện tử và các hình thức thông tin điện tử khác được in ra giấy cũng được coi là hình thức văn bản.
2. "Hoa hồng mua hàng" là khoản tiền mà người mua trả cho đại lý đại diện cho mình để mua hàng hoá nhập khẩu với mức giá hợp lý nhất.
3."Hoa hồng bán hàng" là khoản tiền mà người bán trả cho đại lý đại diện cho mình để bán hàng hoá xuất khẩu cho người mua.
4. "Phí môi giới" là khoản tiền mà người mua hoặc người bán hoặc cả người mua và người bán phải trả cho người môi giới để đảm nhận vai trò trung gian trong giao dịch mua bán hàng hoá nhập khẩu.
5. "Tiền bản quyền và phí giấy phép" là khoản tiền mà người mua phải trả trực tiếp hoặc gián tiếp cho chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ hoặc người được chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ ủy quyền hoặc người cấp phép để được sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ. Ví dụ: tiền trả cho bằng sáng chế, bản quyền thiết kế, nhãn hiệu thương mại, quyền sử dụng nhãn hiệu, bản quyền tác giả, giấy phép sản xuất.
6. Hàng hóa có trị giá được coi là "xấp xỉ" với nhau: nếu sự chênh lệch giữa chúng do các yếu tố khách quan sau đây tác động đến:
Bản chất của hàng hoá, tính chất của ngành sản xuất ra hàng hoá;
Tính thời vụ của hàng hoá;
Sự khác biệt không đáng kể về mặt thương mại.
Trong khi xem xét tính xấp xỉ của hai trị giá phải đưa chúng về cùng điều kiện mua bán.
7. "Hàng hoá nhập khẩu giống hệt" là những hàng hoá nhập khẩu giống nhau về mọi phương diện, bao gồm :
Đặc điểm vật chất như bề mặt sản phẩm, vật liệu cấu thành, phương pháp chế tạo, chức năng, mục đích sử dụng, tính chất cơ, lý, hoá…;
Chất lượng sản phẩm;
Danh tiếng của nhãn hiệu sản phẩm;
Được sản xuất ở cùng một nước, bởi cùng một nhà sản xuất hoặc nhà sản xuất được uỷ quyền.
Những hàng hoá nhập khẩu về cơ bản đáp ứng các điều kiện là hàng hoá nhập khẩu giống hệt nhưng có những khác biệt không đáng kể về bề ngoài như màu sắc, kích cỡ, kiểu dáng mà không làm ảnh hưởng đến giá trị của hàng hoá thì vẫn được coi là hàng hoá nhập khẩu giống hệt.
Những hàng hoá nhập khẩu không được coi là giống hệt nếu như trong quá trình sản xuất ra một trong những hàng hoá đó có sử dụng các thiết kế kỹ thuật, thiết kế thi công, kế hoạch triển khai, thiết kế mỹ thuật, bản vẽ thiết kế, các sơ đồ, phác đồ hay các sản phẩm dịch vụ tương tự được làm ra ở Việt Nam do người mua cung cấp miễn phí cho người bán.
8. "Hàng hoá nhập khẩu tương tự" là những hàng hoá mặc dù không giống nhau về mọi phương diện nhưng có các đặc trưng cơ bản giống nhau, bao gồm:
Được làm từ các nguyên liệu, vật liệu tương đương, có cùng phương pháp chế tạo;
Có cùng chức năng, mục đích sử dụng;
Chất lượng sản phẩm tương đương nhau;
Có thể hoán đổi cho nhau trong giao dịch thương mại, tức là người mua chấp nhận thay thế hàng hoá này cho hàng hoá kia;
Được sản xuất ở cùng một nước, bởi cùng một nhà sản xuất hoặc nhà sản xuất khác được uỷ quyền, được nhập khẩu vào Việt Nam.
Những hàng hoá nhập khẩu không được coi là tương tự nếu như trong quá trình sản xuất ra một trong những hàng hoá đó có sử dụng các thiết kế kỹ thuật, thiết kế thi công, thiết kế mỹ thuật, kế hoạch triển khai, bản vẽ thiết kế, các sơ đồ, phác đồ hay các sản phẩm dịch vụ tương tự được làm ra ở Việt Nam do người mua cung cấp miễn phí hoặc giảm giá cho người bán.
9. "Hàng hoá nhập khẩu cùng phẩm cấp hay cùng chủng loại" là những hàng hoá nằm trong cùng một nhóm hoặc một tập hợp nhóm hàng hoá do cùng một ngành hay một lĩnh vực cụ thể sản xuất ra, bao gồm hàng hoá nhập khẩu giống hệt và hàng hoá nhập khẩu tương tự.
Ví dụ: Chủng loại thép xây dựng như thép trơn tròn, thép xoắn, thép hình (chữ U, I, V…) do ngành sản xuất thép sản xuất ra, là những hàng hoá cùng chủng loại.
Trong phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá khấu trừ "hàng hoá nhập khẩu cùng phẩm cấp hay cùng chủng loại" là hàng hoá nhập khẩu từ tất cả các nước vào Việt Nam, không phân biệt xuất xứ.
Trong phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá tính toán "hàng hoá nhập khẩu cùng phẩm cấp hay cùng chủng loại" phải là những hàng hoá nhập khẩu có cùng xuất xứ với hàng hoá đang xác định trị giá tính thuế.
10. "Cửa khẩu nhập đầu tiên" là cảng đích ghi trên vận tải đơn. Đối với loại hình vận chuyển bằng đường bộ, đường sắt hoặc đường sông thì "cửa khẩu nhập đầu tiên" là cảng đích ghi trên hợp đồng.
Phần II
Phần II Thông tư này.
Phần II Thông tư này.
Phần II Thông tư này.
Phần II Thông tư này;
Phần II Thông tư này.
Phần II Thông tư này.
Phần II Thông tư này.
Phần mềm được ghi, cài đặt hoặc tích hợp trong các hàng hóa nhập khẩu không phải "phương tiện trung gian" hoặc trong phần cứng của các máy móc, thiết bị.
Phần II Thông tư này.
Phần II Thông tư này thì trị giá tính thuế của hàng hoá nhập khẩu được xác định theo trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu giống hệt.
Phần này, trong đó cụm từ "hàng hoá nhập khẩu tương tự" được thay thế bằng cụm từ "hàng hoá nhập khẩu giống hệt".
Phần II Thông tư này thì trị giá tính thuế của hàng hoá nhập khẩu được xác định theo trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu tương tự, với điều kiện hàng hoá nhập khẩu tương tự đã được cơ quan hải quan chấp nhận xác định trị giá tính thuế theo trị giá giao dịch, và có cùng các điều kiện mua bán, điều kiện về thời gian xuất khẩu với hàng hoá nhập khẩu đang xác định trị giá tính thuế theo hướng dẫn tại khoản 2 mục này.
Phần II Thông tư này mà phải chuyển sang phương pháp tiếp theo.
Phần II Thông tư này thì trị giá tính thuế của hàng hoá nhập khẩu được xác định theo trị giá khấu trừ, căn cứ vào đơn giá bán hàng hoá nhập khẩu, hàng hoá nhập khẩu giống hệt hoặc hàng hoá nhập khẩu tương tự trên thị trường nội địa Việt Nam và trừ (-) các chi phí hợp lý, lợi nhuận thu được sau khi bán hàng nhập khẩu.
Phần II Thông tư này.
Phần II Thông tư này thì trị giá tính thuế của hàng hoá nhập khẩu được xác định theo trị giá tính toán. Trị giá tính toán của hàng hoá nhập khẩu bao gồm các khoản sau:
Phần II Thông tư này;
Phần II Thông tư này.
Phần II được thực hiện ở Việt Nam nếu người sản xuất chịu chi phí cho các sản phẩm trợ giúp đó.
Phần II Thông tư này.
Phần II Thông tư này thì trị giá tính thuế được xác định theo phương pháp suy luận, căn cứ vào các tài liệu, số liệu khách quan, có sẵn tại thời điểm xác định trị giá tính thuế.
Phần II Thông tư này và dừng ngay tại phương pháp xác định được trị giá tính thuế, với điều kiện việc áp dụng như vậy phù hợp với các quy định tại khoản 2 mục này.
Phần II Thông tư này để xác định trị giá tính thuế.
Phần II Thông tư này, trên cơ sở dữ liệu giá tại thời điểm xác định trị giá.
Phần II Thông tư này, trên cơ sở dữ liệu giá tại thời điểm xác định trị giá.
Phần II Thông tư này, không xác định theo phương pháp trị giá giao dịch.
Phần II Thông tư này, không xác định theo phương pháp trị giá giao dịch.
Phần II Thông tư này.
Phần III
Phần II Thông tư này.
Điều 4 của Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 của Chính phủ;
a.6) Không thoả mãn một trong các điều kiện khi áp dụng các phương pháp xác định trị giá tính thuế quy định từ
Điều 7 đến
Điều 12 Nghị định số: 40/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 của Chính phủ;
Ví dụ: Người khai hải quan không thoả mãn điều kiện về quyền định đoạt hoặc sử dụng hàng hoá sau khi nhập khẩu khi áp dụng phương pháp 1; không thoả mãn điều kiện về thời gian khi lựa chọn hàng hoá giống hệt, tương tự đối với trường hợp áp dụng phương pháp 2, phương pháp 3,...
b) Xử lý các trường hợp có nghi vấn:
Trong quá trình kiểm tra nếu cơ quan hải quan có nghi vấn về các sai phạm theo quy định tại điểm a khoản này, nhưng chưa đủ cơ sở kết luận hoặc có nghi vấn về mức giá khai báo theo quy định tại tiết b.3 điểm b khoản này, thì thực hiện như sau:
b.1) Trường hợp không có nghi vấn về mức giá nhưng có nghi vấn sai phạm về thủ tục, hồ sơ thì cơ quan hải quan chấp nhận trị giá khai báo đồng thời chuyển các nghi vấn sai phạm sang khâu sau thông quan.
b.2) Trường hợp có nghi vấn về mức giá và có nghi vấn hoặc không có nghi vấn sai phạm về thủ tục, hồ sơ thì xử lý như sau:
b.2.1) Đối với mặt hàng thuộc danh mục quản lý rủi ro về giá:
Cơ quan hải quan thông báo để người khai hải quan biết cơ sở, căn cứ nghi vấn mức giá khai báo, phương pháp, mức giá do cơ quan hải quan xác định và xử lý như sau:
b.2.1.1) Trường hợp người khai hải quan thống nhất với mức giá và phương pháp do cơ quan hải quan xác định, thì cơ quan hải quan sẽ ra thông báo xác định trị giá, ấn định thuế theo quy định và ghi rõ trên tờ khai nhập khẩu.
b.2.1.2) Trường hợp người khai hải quan không thống nhất với mức giá và phương pháp do cơ quan hải quan xác định thì cơ quan hải quan yêu cầu người khai hải quan nộp khoản bảo đảm và thực hiện việc tham vấn theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 mục này.
b.2.1.3) Trường hợp có nghi vấn về mức giá, nhưng trị giá khai báo thấp hơn không quá 5% so với cơ sở dữ liệu giá tại thời điểm kiểm tra thì giao Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, thành phố căn cứ thực tế lô hàng nhập khẩu, các thông tin dữ liệu về hàng hoá nhập khẩu, doanh nghiệp nhập khẩu,…để quyết định việc áp dụng khoản bảo đảm và tổ chức tham vấn đối với lô hàng đó.
b.2.2) Đối với mặt hàng ngoài Danh mục mặt hàng quản lý rủi ro về giá:
b.2.2.1) Cơ quan hải quan thông báo để người khai hải quan biết cơ sở, căn cứ nghi vấn mức giá khai báo, phương pháp, mức giá do cơ quan hải quan xác định và xử lý như quy định tại tiết b.2.1 điểm b khoản này đối với những mặt hàng thuộc danh mục mặt hàng trọng điểm cần tập trung quản lý tại đơn vị do Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, thành phố quyết định.
b.2.2.2) Đối với những mặt hàng ngoài danh mục mặt hàng trọng điểm do Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, thành phố quyết định thì chấp nhận trị giá khai báo đồng thời chuyển các nghi vấn sang khâu sau thông quan.
b.3) Các trường hợp nghi vấn về mức giá:
Căn cứ cơ sở dữ liệu giá tại thời điểm kiểm tra trị giá, cơ quan hải quan so sánh, đối chiếu trị giá khai báo với các trị giá có trong cơ sở dữ liệu giá để kiểm tra tính chính xác, trung thực, khách quan của trị giá khai báo.
Mặt hàng nhập khẩu được coi là có nghi vấn về mức giá nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
b.3.1) Mặt hàng nhập khẩu có trị giá khai báo thấp hơn trị giá tính thuế thấp nhất của mặt hàng giống hệt, tương tự, do cơ quan hải quan xác định; hoặc trị giá khai báo thấp nhất của mặt hàng giống hệt, tương tự, đã được cơ quan hải quan chấp nhận làm trị giá tính thuế (không so sánh với những lô hàng đang trong diện nghi ngờ, chờ tham vấn).
Mặt hàng giống hệt, tương tự dùng để so sánh là những mặt hàng được xuất khẩu đến Việt Nam vào cùng ngày hoặc trong khoảng thời gian 60 ngày trước và 60 ngày sau ngày xuất khẩu của mặt hàng đang có nghi vấn về mức giá. Trường hợp không tìm được mặt hàng giống hệt, tương tự trong thời hạn nêu trên thì được mở rộng khoảng thời gian tra cứu, nhưng không quá 90 ngày trước và 90 ngày sau ngày xuất khẩu của mặt hàng đang có nghi vấn về mức giá.
b.3.2) Mặt hàng nhập khẩu có trị giá khai báo thấp hơn hoặc bằng trị giá khai báo của linh kiện đồng bộ cùng loại nhập khẩu; hoặc thấp hơn hoặc bằng trị giá khai báo của nguyên liệu chính cấu thành nên sản phẩm hoàn chỉnh nhập khẩu.
Về thời gian tìm kiếm dữ liệu thực hiện theo quy định tại tiết b.3.1 điểm b này.
b.3.3) Mặt hàng nhập khẩu có trị giá khai báo thấp hơn trị giá của hàng hoá giống hệt, tương tự có trong danh mục quản lý rủi ro về giá.
b.3.4) Mặt hàng nhập khẩu có trị giá khai báo thấp hơn trị giá do cơ quan hải quan thu thập từ các nguồn thông tin khác sau khi đã được quy đổi về cùng điều kiện với lô hàng đang kiểm tra trị giá.
b.3.5) Mặt hàng nhập khẩu có yếu tố chiết khấu, giảm giá trong đó trị giá khai báo sau khi trừ đi khoản chiết khấu, giảm giá thấp hơn trị giá hàng giống hệt, tương tự quy định tại cơ sở dữ liệu giá.
b.3.6) Trường hợp không tìm được hàng hoá giống hệt, hàng hoá tương tự theo quy định tại Thông tư này để so sánh, kiểm tra trị giá khai báo thì áp dụng linh hoạt, mở rộng hơn khái niệm hàng hoá giống hệt, tương tự, cụ thể:
Mặt hàng nhập khẩu có nhiều tính năng, công dụng đi kèm có thể so sánh với trị giá của mặt hàng cùng loại có 1 tính năng cơ bản đã có trong cơ sở dữ liệu giá.
Mặt hàng nhập khẩu có phẩm cấp chất lượng cao hơn có thể so sánh với trị giá của mặt hàng cùng loại có phẩm cấp chất lượng thấp hơn đã có trong cơ sở dữ liệu giá.
Mặt hàng nhập khẩu có xuất xứ từ các nước, khối nước phát triển có thể so sánh với trị giá của mặt hàng cùng loại từ các nước, khối nước chưa phát triển, đang phát triển có trong cơ sở dữ liệu giá (ví dụ: hàng hoá nhập khẩu đang cần kiểm tra trị giá có xuất xứ từ Nhật Bản có thể so sánh với trị giá của hàng cùng loại xuất xứ từ Hàn Quốc có trong cơ sở dữ liệu giá).
Về thời gian tìm kiếm dữ liệu thực hiện theo quy định tại tiết b.3.1 điểm b này.
c) Chấp nhận trị giá khai báo: Ngoài các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này, cơ quan hải quan chấp nhận trị giá khai báo.
4. Trì hoãn xác định trị giá tính thuế:
a) Các trường hợp trì hoãn xác định giá tính thuế:
a.1) Người khai hải quan trì hoãn xác định trị giá tính thuế: Áp dụng đối với trường hợp người khai hải quan chưa có đủ thông tin cần thiết để xác định trị giá tính thuế tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan.
a.2) Cơ quan hải quan trì hoãn xác định trị giá tính thuế: Áp dụng đối với trường hợp hàng hóa nhập khẩu thuộc diện phải nộp thuế ngay, đồng thời thuộc đối tượng phải thực hiện việc tham vấn theo quy định tại tiết b.2.1.2 và tiết b.2.2.1 điểm b khoản 3 mục I
Phần III Thông tư này.
Phần III Thông tư này.
Phần III Thông tư này. Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện các sai phạm về hồ sơ, chứng từ, phương pháp xác định trị giá thì bác bỏ trị giá khai báo và xác định giá tính thuế theo trình tự nguyên tắc và các phương pháp quy định từ mục II đến mục VI
Phần II Thông tư này. Trường hợp phát hiện các nghi ngờ về hồ sơ, chứng từ, mức giá khai báo nhưng chưa đủ căn cứ kết luận hành vi gian lận thì chuyển các nghi vấn sang bộ phận kiểm tra sau thông quan để tiếp tục xác minh, làm rõ theo quy định.
Phần IV
Phần III Thông tư này.
Phần III Thông tư này.
Phần II Thông tư này.
Mục I
Phần III Thông tư này.
Phần V
Phần VI